Thống kê Giáo hội Công giáo 2012


(16.10.2012) / Fides – Chúa nhật 21-10-2012 được Giáo hội ấn định là Ngày Thế giới Truyền giáo 2012.
Theo thông lệ, nhân Ngày Thế giới Truyền giáo, hãng tin Fides đưa ra toàn cảnh hoạt động truyền giáo của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới. Các con số thống kê liên quan đến các lĩnh vực tổ chức và hoạt động của Giáo hội được Fides đăng tải (WHĐ lập thành bảng) dựa theo ấn bản mới nhất của Sách Niên giám của Giáo hội (tính đến 31-12-2010). Các thay đổi –tăng hay giảm– so với năm trước được để trong dấu ngoặc: dấu cộng (+) là tăng, dấu trừ (-) là giảm, dấu bằng (=) nghĩa là không thay đổi.
Thống kê năm nay được công bố trong bối cảnh Thượng Hội đồng Giám mục về Tân Phúc âm hóa và thông truyền Tin Mừng đang diễn ra tại Rôma từ ngày 7 đến 28-10-2012, tiếp tục đặt ra cho Giáo hội, nhất là các nghị phụ Thượng Hội đồng, quyết tâm đẩy mạnh công cuộc Tân Phúc âm hóa, Tái Phúc âm hóa và Truyền giáo của Giáo hội trên khắp thế giới, đặc biệt tại châu Âu khi con số thống kê về tỉ lệ tăng trưởng vẫn tiếp tục giảm sút, tuy có cải thiện đôi chút trên một vài lĩnh vực nhưng vẫn chưa thật khả quan.

Dân số thế giới – Tín hữu Công giáo

Châu lục
Dân số
Tín hữu Công giáo
Tỉ lệ
Châu Phi
1.015.544.000 (+22.144.000)
185.620.000 (+ 6.140.000)
18,28 % (+0,21)
Châu Mỹ
927.121.000 (+5.197.000)
586.998.000 (+3.986.000)
63,31 % (+0,07)
Châu Á
4.155.096.000 (+40.510.000)
129.661.000 (+ 3.801.000)
3,12 % (+ 0,06)
Châu Âu
713.397.000 (+2.438.000)
284.924.000 (+ 894.000)
39,93 % (- 0,01)
Châu Đại dương
36.492.000 (+662.000)
9.468.000 (+ 185.000).
25,94 % (+ 0,03 )
TỔNG CỘNG
6.848.550.000 (+70.951.000)
1.195.671.000 (+15.006.000)
17,46% (+ 0,04)
Số dân / Số tín hữu Công giáo trên một linh mục
Châu lục
Số dân
trên một linh mục
Số tín hữu Công giáo
trên một linh mục
Châu Phi
27.362 (+40)
4.946 (+64)
Châu Mỹ
7.561 (+40)
4.779 (+30)
Châu Á
48.672 (-730)
2.269 (-1)
Châu Âu
3.752 (+31)
1.498 (+11)
Châu Đại dương
7.578 (+57)
1.965 (+17)
TỔNG CỘNG
13.277 (+123)
2.900 (+24)
Giáo khu – Điểm truyền giáo
Châu lục
Giáo khu
Điểm truyền giáo
có linh mục
Điểm truyền giáo
không có linh mục
Châu Phi
525 (+4)
360 (-204)
73.695 (+2.143)
Châu Mỹ
1.081 (+3)
239 (+26)
18.245 (+4.109)
Châu Á
531 (+1)
1388 (+391)
42.727 (+685)
Châu Âu
750 (+2)
45 (+8)
158 (+79)
Châu Đại dương
79 (=)
25 (-14)
843 (+47)
TỔNG CỘNG
2.966 (+10)
2.057 (+207)
133.682 (+2.734)

Giám mục

Châu lục
Tổng số giám mục
Giám mục giáo phận
Giám mục dòng
Châu Phi
694 (+13)
490 (+2)
194 (+3)
Châu Mỹ
1.921 (+22)
1.329 (+19)
563 (-7)
Châu Á
757 (+11)
548 (+1)
199 (+1)
Châu Âu
1.608 (+1)
1.373 (+17)
232 (-2)
Châu Đại dương
128 (-4)
88 (+3)
45 (+1)
TỔNG CỘNG
5.104 (+39)
3.871 (+43)
1.233 (-4)

Linh mục

Châu lục
Tổng số linh mục
Linh mục giáo phận
Linh mục dòng
Châu Phi
37.527 (+761)
25.431 (+571)
12.093 (+190)
Châu Mỹ
122.607 (+40)
81.913 (+502)
40.694 (-462)
Châu Á
57.136 (+1695)
33.318 (+801)
23.818 (+894)
Châu Âu
190.150 (-905)
133.540 (-460)
56.613 (-445)
Châu Đại dương
4.816 (+52)
2.807 (+53)
2.009 (-1)
TỔNG CỘNG
412.236 (+ 1.643)
277.009 (+1.467)
135.227 (-176)

Phó tế vĩnh viễn

Châu lục
Tổng số
Phó tế vĩnh viễn
Phó tế vĩnh viễn
giáo phận
Phó tế vĩnh viễn
dòng tu
Châu Phi
401 (-5)
378 (-6)
23 (+1)
Châu Mỹ
25.441 (+859)
25.235 (+863)
206 (-4)
Châu Á
224 (+58)
190 (+60)
34 (-2)
Châu Âu
13.151 (+496)
12.857 (+495)
294 (+1)
Châu Đại dương
347 (+1)
344 (=)
3 (+1)
TỔNG CỘNG
39.564 (+1.409)
39.004 (1.412)
560 (-3)
Tu sĩ nam nữ
Châu lục
Nam
Nữ
Châu Phi
8.564 (+254)
66.375 (+1.395)
Châu Mỹ
16.531 (-261)
195.198 (-3.178)
Châu Á
10.461 (+411)
165.308 (+3.047)
Châu Âu
17.669 (+17)
286.012 (-8.491)
Châu Đại dương
1.440 (+15)
9.012 (-239)
TỔNG CỘNG
54.665 (+436)
721.935 (-7.436)
Hội viên Tu hội đời
Châu lục
Nam
Nữ
Châu Phi
84 (+3)
782 (+14)
Châu Mỹ
244 (-9)
5.782 (-84)
Châu Á
43 (-1)
1.881 (+32)
Châu Âu
377 (+17)
17.560 (-174)
Châu Đại dương
1 (=)
48 (+5)
TỔNG CỘNG
747 (+10)
26.053 (-207)
Thừa sai giáo dân và giáo lý viên
Châu lục
Thừa sai giáo dân
Giáo lý viên
Châu Phi
6.372 (+1.135)
397.383 (-29.405)
Châu Mỹ
300.718 (+14.655)
1.886.068 (+43.619)
Châu Á
21.726 (-1.819)
313.774 (-10.133)
Châu Âu
6.334 (+1.243)
556.528 (+5.077)
Châu Đại dương
352 (+62)
15.875 (+393)
TỔNG CỘNG
335.502 (+15.276)
3.160.628 (+9.551)
Đại chủng sinh giáo phận và dòng tu
Châu lục
Tổng số
Đại chủng sinh
Đại chủng sinh
(giáo phận)
Đại chủng sinh
(dòng tu)
Châu Phi
26.924 (+752)
18.094 (+545)
8.830 (+207)
Châu Mỹ
35.963 (-29)
24.350 (+136)
12.228 (+293)
Châu Á
33.971 (+513)
16.037 (+538)
17.889 (+660)
Châu Âu
21.564 (-282)
12.821 (-442)
7.743 (+160)
Châu Đại dương
1.056 (=)
672 (-22)
388 (+22)
TỔNG CỘNG
118.990 (+1.012)
71.974 (+755)
47.016 (+257)
Tiểu chủng sinh giáo phận và dòng tu
Châu lục
Tổng số
Tiểu chủng sinh
Tiểu chủng sinh
(giáo phận)
Tiểu chủng sinh
(dòng tu)
Châu Phi
52.140 (+213)
45.713 (+75)
6.427 (+138)
Châu Mỹ
14.021 (-1.033)
9.869 (-704)
4.152 (-329)
Châu Á
24.930 (+400)
15.761 (+416)
9.169 (-16)
Châu Âu
10.968 (-1.206)
6.468 (-855)
4.500 (-351)
Châu Đại dương
249 (-57)
196 (-67)
53 (+10)
TỔNG CỘNG
102.308 (+1.683)
78.007 (-1135)
24.301 (-548)
Trường học và học sinh
Nhà trẻ
& mẫu giáo
Số trẻ
Trường
Tiểu học
Sĩ số
Trường
Trung học
Sĩ số
Sinh viên
cao đẳng
Sinh viên
đại học
70.544
(+2.425)
6.478.627
92.847
(-124)
31.151.170
(+178.056)
43.591
(+1.096)
17.793.559
(+678.822)
2.304.171
(+15.913)
3.338.455
(+63.015)
Bệnh viện, Dưỡng đường, Cơ sở bác ái từ thiện
Bệnh
viện
Dưỡng
đường
Trung tâm
chăm sóc
bệnh nhân
phong
Nhà cho
người già và người
khuyết tật
Cô nhi viện
Trường
Đào tạo
Y tá
Trung tâm
tư vấn
hôn nhân
Trung tâm
giáo dục & phục hồi
Các
cơ sở khác
5.305
18.179
547
17.223
9.882
11.379
15.327
34.331
9.391
Thống kê về con số các địa hạt do Bộ Loan báo Tin Mừng cho các Dân tộc (Bộ Truyền giáo) đảm trách, gồm Tổng Giáo phận, Giáo phận, Đan viện tòng thổ, Hạt đại diện Tông tòa, Hạt Phủ doãn tông tòa, Hạt Giám quản tông tòa, Vùng truyền giáo tự lập, Giáo phận quân đội, như sau:
Châu lục
Số địa hạt
Châu Phi
502
Châu Mỹ
79
Châu Á
476
Châu Đại dương
46
TỔNG CỘNG
1103
(Theo www.fides.org, 13-10-2012)
 
Đức Thành

Giải Nobel về Y học. Một tin vui cuả Giáo Hội Công Giáo

Ủy ban giải thưởng Nobel vừa công bố tại viện Karolinska ở Stockholm là giải thưởng Y học năm 2012 sẽ được phát cho 2 nhà bác học, một người Anh và một người Nhật.
Công lao cuả hai nhà bác học này là đã 'phát hiện ra rằng các tế bào trưởng thành có thể được 'tái lập trình' để trở thành tế bào gốc đa năng".
Ủy ban cho biết thêm rằng việc phát hiện đã "cách mạng hóa sự hiểu biết của chúng ta về các tế bào và các sinh vật phát triển như thế nào." "Những khám phá này cũng cung cấp nhiều công cụ mới cho các nhà khoa học trên khắp thế giới và dẫn đến nhiều tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực y học," ủy ban tuyên bố.
Cả hai nhà bác học đã nghiên cứu việc thay đổi tế bào trưởng thành thành tế bào gốc, nhờ đó các tế bào này có tiềm năng để cấy thành những tế bào nội tạng và được dùng trong việc điều trị nhiều loạt bệnh tật.
Khởi đầu vào năm 1962, Sir John B. Gurdon, giáo sư Đại học Cambridge Anh quốc, đã khám phá ra rằng người ta có thể đảo ngược sự chuyên môn của các tế bào. Ông lấy một hạt nhân từ một tế bào ở ruột của một con ếch và cấy hạt nhân đó vào một trứng ếch (đã bị lấy hạt nhân ra).
Tế bào trứng (đã bị thay thế hạt nhân) đó vẫn có thể phát triển thành một con nòng nọc. Công việc của ông đã trở thành cơ sở sau này cho các việc nghiên cứu 'sao chép sinh vật' (cloning) (tạo sinh vô tính).
Từ trước, người ta tin rằng các tế bào chỉ có thể phát triển theo một hướng, và nhân cuả một tế bào đã trưởng thành không bao giờ có thể 'cải lão hoàn đồng' để trở về trạng thái đa năng nguyên thủy. Một tế bào được gọi là đa năng vì nó có thể phát triển thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể.
Xây dựng trên công việc của Gordon, Shinya Yamanaka, giáo sư Đại học Kyoto nước Nhật, đã xuất bản một nghiên cứu trong năm 2006 chứng minh rằng các tế bào trưởng thành vẫn có thể trở thành các tế bào gốc chưa trưởng thành. Ông đã cấy 'gen' vào những tế bào của chuột, và những 'gen' đó đã 'tái lập trình' các tế bào đó làm cho chúng trở thành tế bào gốc.
Những tế bào được 'tái lập trình' này có khả năng 'đa năng.'
Bời vì kỹ thuật cuả Yamanaka là có thể dùng bất kỳ một tế bào nào để 'cải biến' thành một tế bào gốc, việc dùng 'tế bào gốc phôi thai' không còn cần thiết nữa. Chúng ta biết rằng để lấy được những 'tế bào gốc phôi thai', người ta đã phải phá hủy một cái trứng 'phôi thai', tức là hủy đi một sinh mạng.
Bước đột phá cuả Yamanaka đã mở ra cánh cửa cho nhiều nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị nhiều loại bệnh tật. Thí dụ nhiều người hy vọng sẽ có thể sửa chữa mô tim sau một cơn đau tim hoặc đảo ngược các căn bệnh Alzheimer và Parkinson. Việc trao giải thưởng Nobel cho hai nhà bác học trên đã được các giới Công Giáo khắp nơi ca tụng. Giới lãnh đạo Công giáo ở châu Âu hoan nghênh quyết định như là một thắng lợi cho đạo đức.
Ủy ban Hội đồng Giám mục của Cộng đồng châu Âu, COMECE, tuyên bố rằng việc trao giải Nobel cho John B. Gurdon và Shinya Yamanaka là một "cột mốc quan trọng" trong việc nhận ra tiềm năng vượt trội của việc nghiên cứu trên tế bào gốc người lớn thì hơn là những thử nghiệm có tính phá hủy trên các tế bào gốc phôi thai. Trung tâm đạo đức sinh học Anscombe, một viện nghiên cứu phục vụ Giáo hội Công giáo ở Vương quốc Anh và Ireland, cũng mô tả giải thưởng như là một "thành tựu có ý nghĩa đạo đức tuyệt vời." "Kỹ thuật này cung cấp một hy vọng là người ta có thể đạt được tiến bộ trong việc nghiên cứu tế bào gốc mà không cần dựa vào việc phá hủy phi đạo đức của phôi thai con người", theo lời ông David Jones, giám đốc của trung tâm Anscombe tại Oxford, Anh.
"Những nỗ lực trong quá khứ để sao chép bào thai con người và những thí nghiệm kỳ lạ để tạo ra một bào thai giữa người và vật đã không đem lại một kết quả nào," ông nói. "Ngược lại, sự biến đổi từ một tế bào trưởng thành thành một tế bào gốc đã đạt được nhiều tiến bộ lớn," ông tiếp tục. "Đây là khoa học trong đỉnh cao tột cùng: vừa xinh đẹp và vừa đạo đức". Lưu ý rằng "gần đây GeronCorp, một công ty nghiên cứu hàng đầu của thế giới trên bào thai, đã công bố đóng cửa chương trình tế bào gốc phôi thai của họ." Hội đồng Giám mục COMECE khuyến khích các tổ chức Liên minh châu Âu hãy chuyển kinh phí từ "những nghiên cứu tế bào gốc phôi thai không hạp với đạo đức, ít hứa hẹn về khoa học và kinh tế " sang các nghiên cứu 'không dùng tế bào gốc phôi thai' có tiềm năng lớn hơn.
"Hôm nay giải Nobel đã thưởng công cho những nỗ lực phát hiện ra các phương pháp thay thế tốt hơn", bàn tuyên bố nói thêm.
Trần Mạnh Trác10/9/2012: http://vietcatholic.org/News/Html/100473.htm

Tập tục lễ Tết Trung Thu

 Theo phong tục tập quán văn hóa Việt Nam, hằng năm vào mùa Thu có ngày lễ Tết Trung Thu, 15.08. âm lịch. Ngày lễ này mang đậm mầu sắc lễ hội văn hóa xã hội cùng cho trẻ con thiếu nhi nhiều hơn.
Nhưng đâu là ý nghĩa mầu sắc tôn giáo của ngày lễ hội này trong đời sống đức tin đạo công giáo ?
1. Sau mùa cày cấy
Ở xã hội bên quê nhà Việt Nam, theo chu kỳ thời tiết tiếp theo sau mùa thu hoạch thóc lúa hoa qủa là mùa Thu.
Bên xã hội Âu châu cũng thế. Và vào dịp này có ngày, thường vào Chúa nhật đầu tháng Mười hằng năm, tạ ơn mùa màng đã thu hoạch xong. 
Tập tục này nói lên lòng biết ơn của con người với Đấng Tạo Hóa đã ban cho con người lương thực sinh sống. 
Tập tục này nói lên tâm tình lòng hy vọng cậy trông của con người vào bàn tay lo liệu gìn giữ của Đấng Tạo Hóa cho tương lai đời sống con người trên mặt đất ở những vụ mùa màng kế tiếp.
Tập tục này nói lên lòng kính trọng thiên nhiên, đất đai, sức lực con người, mà họ nhận được như qùa tặng, chứ không do con người chế biến làm ra. 
Ngày lễ hội Tết Trung Thu dành cho thiếu nhi trẻ con theo phong tục văn hóa Á Đông vào mùa Thu mang nhiều mầu sắc huyền thoại, không mang mầu sắc tôn giáo. Nhưng dẫu vậy cũng phần nào gói ghém tâm tình ý tưởng kính trọng hướng về thiên nhiên, về sự sống con người. 
Điều này thể hiện trong việc các em thiếu nhi rước lồng đèn ban đêm ngày 15. 08. âm lịch, có ánh sáng trong từ mặt Trăng chiếu tỏa xuống mặt đất. 
2. Chiếc đèn lồng
Chiếc lồng đèn các em bé cầm đi rước thường làm bằng giấy bóng kiếng , giấy mỏng có vẽ hay cắt khắc dán hình các con vật như con cá, con tôm, con chó, con bươm bướm cả hình người trẻ con nữa ở chung quanh đèn. 
Bên trong chiếc lồng đèn là ngọn nến cháy sáng hay ngọn đèn điện cũng được bật lên. Ngoài trời tối, ánh sáng trong chiếc lồng đèn tỏa ra chiếu rỏ nét hình vẽ cắt dán chung quanh lồng đèn. Ánh sáng tỏa ra từ lồng đèn không mạnh , không chiếu sáng ra xa. Nhưng đủ cho hình chung quanh chiếc lồng đèn hiện nổi lên, cùng đủ chiếu sáng gương mặt em bé đang cầm trong tay chiếc lồng đèn.
Nhìn chiếc lồng đèn có ánh sáng chiếu tỏa gợi nhớ đến cây nến Rửa tội, mà em bé cũng như những người Công Giáo đã nhận ngày lãnh nhận Bí Tích Rửa tội lúc còn thơ bé.
Ánh sáng cây nến rửa tội được đốt thắp lên từ cây nến Chúa Giêsu phục sinh, Đấng là ánh sáng niềm tin, niềm hy vọng và tình yêu mến cho con người trên trần gian.
Ánh sáng cây nến rửa tội không sáng mạnh như ánh sáng ngọn đèn điện. Nhưng đủ tỏa sức sáng cùng hơi nóng cho tâm hồn đức tin giúp nhận ra mình là con Thiên Chúa, giúp trí khôn tinh thần nhận biết giới hạn tâm trí con người, và cần sự trợ giúp từ Trời cao, nhất là trong những khi gặp đau khổ, khó khăn bối rối.
Ánh sáng yếu ớt của ngọn nến chiếc lồng đèn tuy vậy chiếu rõ nét hình dán vẽ chung quanh chiếc đèn. 
Điều này khích lệ giúp ta thêm phấn khởi tin tưởng, dù là những việc nhỏ ta làm giúp người khác cũng mang đến hiệu qủa ích lợi, mà không sợ là chuyện nhỏ bé không có gía trị gì.
Điều này cũng nói lên ánh sáng cây nến rửa tội trong tâm hồn ta, dù yếu bé nhỏ, nhưng đủ sức soi chiếu giúp sống nhận ra điều ngay chính tốt lành là người con của Chúa. Và qua đời sống như thế, dù âm thầm, cũng chiếu tỏa tình yêu của Chúa, vẻ nét đẹp của Đấng Tạo Hóa nơi con người và trong thiên nhiên hòa lẫn dưới ánh trăng lung linh.
3. Ánh sáng mặt Trăng
Theo huyền thoại ánh sáng mặt Trăng đêm Trung Thu, 15.08. Âm lịch, trong sáng hơn mọi ngày. Và trong đêm này có thể nhìn rõ Chị Hằng Nga cùng Chú Cuội tựa gốc cây đa trên cung trăng. 
Ánh trăng trong đêm Rằm tháng Tám Âm lịch trong sáng thì có. Nhưng Chị Hằng Nga và Chú Cuội với cây đa trên cung trăng thì không lấy gì bảo đảm. Vì năm 1969 Phi thuyền Apollo 11. của Nasa Hoa Kỳ đã đổ bộ đưa các phi hành gia Neil Amstrong, Edwin Adrin và Michael Collins lên mặt Trăng đi bộ trên đó, và họ chỉ thấy toàn núi đất đá, chứ không thấy một người nào cả.
Theo sách Sáng thế ký tường thuật, mặt Trăng là một hành tinh trong thiên nhiên do Thiên Chúa tạo dựng trong công trình tạo dựng trời đất:“ 14 Thiên Chúa phán: "Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. 15 Ðó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất." Liền có như vậy. 16 Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. 17 Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, 18 để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. 19 Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.“( Sách Sáng Thế 1,14- 19).
Lẽ dĩ nhiên khoa học xưa nay vẫn luôn đi tìm hiểu khảo cứu về nguồn gốc hành tinh này, nhất là xem có sự sống trên hành tinh mặt trăng không.
Ánh sáng phát chiếu ra từ mặt trăng, theo khoa học khảo cứu là ánh phản chiếu lại ánh sáng mặt trời. Vì tự mặt trăng không có ánh sáng. Mặt trăng chiếu lại ánh sáng của mặt trời vào ban đêm theo như chu kỳ di chuyển xoay vần của vũ trụ một ngày có một nửa thời gian 12 tiếng là ban ngày được mặt trời chiếu sáng, và một nửa thời gian 12 tiếng là ban đêm được mặt Trăng chiếu sáng. 
Điều này cũng nói lên đời sống con người lệ thuộc vào Thiên Chúa, như mặt trăng lệ thuộc vào mặt trời để tiếp nhận có ánh sáng. 
Ánh sáng mặt trăng dịu mát hơn ánh sáng mặt trời nóng gay gắt. Vì thế có thể ngước mắt ngắm nhìn thẳng lên mặt trăng, nhưng lên mặt trời thì không thể được.
Mặt trăng di chuyển trong chu kỳ mỗi tháng tròn đầy rồi lại khuyết nhỏ như hình vòng lưỡi liềm. Điều này nói lên sự hay thay đổi không có gì là bền vững. 
Và cũng như mặt trăng thay đổi hình dạng khi đầy tròn khi khuyết thu nhỏ lại và chìm dần trong khoảng không gian bao la. Đời sống con người cũng trải qua những giai đoạn sinh ra, tuổi thơ bé, tuổi thanh thiếu niên, tuổi trưởng thành, tuổi cao niên và giai đoạn đi trở về với lòng đất mẹ ngày sau cùng.
*************************
Như mặt Trăng có lúc tròn đầy, có lúc khuyết chỉ còn một nửa hay một phần nhỏ, có lúc bị hành tinh khác chạy ngang che lấp tối mù mịt. Lịch sử đời sống xã hội vào mọi không gian thời đại cũng thế đều có tiến triển, có luân chuyển thay đổi, có bóng tối có ánh sáng, có lúc thăng trầm, có thịnh vượng cũng như lúc khủng hoảng trì trệ...
Dòng sông, con đường đời sống mỗi người cũng lên xuống thay đổi như chu kỳ mặt trăng luân chuyển thay đổi theo trật của Đấng Tạo Hóa đã sắp đặt ấn định, mà không ai biết trước cùng chưa hay không sao khám phá ra được.
Dẫu vậy, Đấng Tạo Hóa đã nhìn thấy trước, nên Ngài đã đựng nên Mặt Trời chiếu tỏa ánh sáng hơi nồng ấm cho sự sống được gìn giữ phát triển vào ban ngày. Và ban đêm có mặt Trăng cùng các Tinh Tú chiếu soi ánh sáng dịu mát thanh bình cho mọi loài sinh sống trên mặt đất.
Ánh sáng mặt Trời và ánh sáng mặt Trăng là ánh sáng chiếu tỏa niềm vui, niềm hy vọng cho con người cùng cây cỏ và thú vật trên trần gian. 

Mùa trăng Trung Thu Nhâm Thìn 2012
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long



"Nhổ Rễ" Thói Quen Xấu


Hãy học cách sửa thói quen xấu trước khi nó bám rễ vào trong tính cách của bạn!
Một người đàn ông giàu đã dùng rất nhiều cách từ cứng rắn đến ngọt nhạt để giúp cậu con trai bỏ những thói quen xấu, nhưng đều thất bại. Cuối cùng, ông mời một nhà hiền triết đến nói chuyện và giúp ông. Nhà hiền triết đưa cậu bé đi dạo trong vườn, nói những câu chuyện rất vui vẻ về thiên nhiên, cảnh vật. Đột nhiên, ông dừng lại và yêu cầu cậu bé nhổ một cây cỏ lên.
Cậu bé nhẹ nhàng dùng hai ngón tay nhấc cây cỏ lên. Sau đó, nhà hiền triết lại đề nghị cậu nhổ một cây khác lớn hơn. Lần này, cậu phải dùng cả bàn tay để nhổ. Cuối cùng, rễ cây cũng bật lên.
"Nào, bây giờ thì thử một lần nữa", nhà hiền triết chỉ một cái cây khá to gần đấy. Cậu bé dùng hết sức mình nhưng cũng không thể làm cái cây lung lay chút nào. "Nó quá chắc, sao con có thể nhổ nó lên được thưa ngài?"
"Con xem, đây cũng chính là những thói quen xấu", nhà hiền triết hiền từ đáp, "khi chúng còn "nhỏ", con sẽ rất dễ kéo nó lên; nhưng một khi con để rễ nó ăn sâu vào mình, con sẽ không thể nhổ bật".
Phật đã răn dạy "Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình". Quả vậy, trong cuộc sống chúng ta phải đấu tranh với rất nhiều thứ, trong đó, đấu tranh với chính bản thân mình là cuộc đấu tranh cam go và phức tạp nhất. Con người ta thường có xu hướng chiến đấu sống còn với người khác nhưng lại dễ dàng thỏa hiệp với chính mình. Đây cũng chính là nguyên nhân tạo nên những thói quen xấu, cái mà không chỉ ảnh hưởng đến bản thân chúng ta mà nhiều khi còn gây phiền phức cho cộng đồng.
Có một sự thật rằng, thói xấu bao giờ cũng dễ nhiễm hơn tính tốt. Người ta thường nói rằng: "Những thói quen xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở thành người bạn thân ở chung nhà, và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính". Thói quen xấu dần dần được hình thành và ngự trị trong mỗi người; vì vậy, hãy học cách loại bỏ những thói quen xấu trước khi biến mình thành "nô lệ" cho những "ông chủ nhà khó tính" ấy.
Linh Hoa (Theo http://ngoisao.net)

Lễ Kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (Mt 18,1-5)


Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy rằng, các môn đệ là những người được ĐGS gọi và giáo huấn để các ngài trở nên những nhân chứng đích thực của Ngài. Thế nhưng, các ngài đã không vượt qua được những tâm thức và ước muốn thường tình của con người như: tranh giành địa vị, chức quyền cao trọng không những trong đời sống hằng ngày, nhưng còn tranh giành trong Nước TC. Vì thế, các môn đệ đã hỏi ĐGS: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời”. Để trả lời cho câu hỏi đó, ĐGS gọi một em nhỏ lại, đặt giữa các ông và tuyên bố: “Nếu anh em không trở nên như em nhỏ này thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời”. Như thế, việc trở nên trẻ nhỏ không những là một điều kiện để trở nên cao cả trong Nước Trời, mà còn là một đòi hỏi khẩn thiết để được nhận vào Nước Trời. Trở nên trẻ nhỏ là mặc lấy tâm tình đơn sơ, tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào quyền năng của TC. Trở nên như trẻ nhỏ là ý thức thân phận yếu đuối bất toàn và nghèo nàn của mình rồi để cho TC lấp đầy những những khuyết phạm đó. Do đó, để vào Nước Trời, chúng ta cũng phải khiêm nhường, tự nhận mình là hèn yếu và thiếu thốn, mặc lấy tâm tình đơn sơ như ĐGS đã dạy. Lời giáo huấn của ĐGS trên đây đã được thực hiện một cách triệt để nơi bản thân và cuộc sống của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu mà chúng ta mừng kính hôm nay.

Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu sinh ra và lớn lên trong những năm cuối của TK 19, tuy chỉ hưởng dương được 24 tuổi, nhưng được Giáo hội chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo, mặc dầu cuộc sống của thánh nhân luôn ở trong những bức tường của Dòng Kín. Khi nói đến một thánh nhân, chúng ta hay nghĩ đến những hành động phi thường, một cái chết can trường, một cuộc sống vượt khỏi những khả năng tự nhiên của con người. Nhưng thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã làm một cuộc cách mạng trong cách nhìn và lối sống thường thấy đó. Vì sự thánh thiện mà thánh nữ đã vạch ra con đường biết chấp nhận chính mình, biết đón nhận từng giây phút trong cuộc sống với tất cả tình yêu và đơn sơ phó thác. Thánh nhân đã sống những giây phút hiện tại một cách sung mãn. Vì thánh nhân muốn nên giống ĐGS ngay trong giây phút hiện tại, ngay trong cộng đoàn bằng một tâm hồn đơn sơ. Bởi thế, những giây phút hiện tại đó đã quyết định cho đời sống vinh quang của ngài. Đồng thời, thánh nhân cũng nhận ra giá trị cao cả trong những công việc tầm thường nhỏ bé nhất, trong những hành động tha thứ và khiêm tốn nhìn vào những thất bại khổ đau trong cuộc sống như là một ân ban của Chúa. Đối với thánh nhân, tất cả đều là hồng ân.
Theo gương thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, chúng ta hãy nên thánh bằng con đường thơ ấu thiêng liêng, làm tất cả mọi việc đều nhờ Chúa, với Chúa và trong Chúa, để mọi hoạt động của chúng ta đều có giá trị trước mặt TC và đem lại ơn cứu độ cho nhiều người. Vì đời này để đâu thì mai sau hưởng vậy. Trong niềm tin yêu phó thác, chúng ta hãy dâng lên Chúa tất cả cuộc sống của chúng ta với biết bao thử thách từng ngày như là dấu chứng tình yêu của Chúa đối với chúng ta. Ước gì nhờ gương sáng và lời cầu bầu của thánh nhân, chúng ta luôn biết sống tin yêu phó thác tuyệt đối vào quyền năng, tình yêu và sự quan phòng của TC, để cuộc sống và sứ vụ truyền giáo của chúng ta luôn được ngụp lặn trong lòng nhân từ của Chúa. Như thế, chúng ta đang và sẽ sống như lòng mong ước của Ngài nhằm thực thi mệnh lệnh của đấng tổ phụ chúng ta: Cuộc sống của Ngài là cuộc sống của chúng ta, sứ vụ của Ngài là sứ vụ của chúng ta. Amen