Vatican II dưới nhãn quan các chuyên viên tại đó


Năm Đức Tin sẽ chấm dứt vào ngày 24 tháng này. Nó bắt đầu ngày 11 tháng Mười năm ngoái, đúng ngày kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Vatican II. Do đó, Đức Bênêđíctô XVI đã khuyên tín hữu học hỏi Công Đồng này như một trong các mục tiêu của Năm Đức Tin. 

Để giúp đào sâu việc học hỏi này, chúng tôi sẽ trình bày một số nhãn quan của chính các chuyên viên tại Vatican II. Chuyên viên đầu tiên chúng tôi muốn nhắc đến là linh mục John Courtney Murray, một thần học gia của Dòng Tên Hoa Kỳ, nổi tiếng trong các cố gắng hòa giải đạo Công Giáo với chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo, nhất là chú trọng tới mối liên hệ giữa tự do tôn giáo và các định chế thuộc chế độ nhà nước dân chủ. 

Cha Murray sinh năm 1904 tại New York. Ngài gia nhập Dòng Tên năm 1920, học cổ điển và triết lý tại Boston College, đậu cử nhân năm 1926 và cao học năm 1927. Sau đó, ngài qua Phi Luật Tân dạy La Tinh và văn chương Anh tại Ateneo de Manila. Năm 1930, ngài trở về Hoa Kỳ và thụ phong linh mục năm 1933. Ngài tiếp tục học lên tại Đại Học Gregorian ở Rôma, đậu tiến sĩ thần học năm 1937. Trở về Hoa Kỳ, ngài dạy thần học Ba Ngôi tại Trường Thần Học Dòng Tên tại Woodstock, Maryland. Năm 1941, ngài được cử làm chủ bút tạp chí thần họcTheological Studies của Dòng Tên cho tới lúc qua đời năm 1967 tại New York vì nhồi máu cơ tim. 

Một đầu óc nặng về lý thuyết, cha Murray mau chóng trở thành khuôn mặt công cộng hàng đầu, chuyên bàn tới các căng thẳng giữa tôn giáo và đời sống công cộng. Các khảo luận chung quanh chủ đề này đã được gom thành tác phẩm nổi tiếng của ngài tựa là We Hold These Truths: Catholic Reflections on the American Proposition (Sheed & Ward, 1960). Trong tư cách vừa là đại diện của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ vừa là cố vấn của văn phòng tôn giáo vụ tại Phủ Tổng Ủy Đồng Minh, ngài giúp soạn thảo và cổ vũ bản Tuyên Ngôn Về Hoà Bình Thế Giới năm 1943, một tuyên ngôn liên tôn gồm các nguyên tắc tái thiết hậu chiến và đã khuyến cáo thành công một sắp xếp có tính hiến định giữa nhà nước Đức phục hưng và Giáo Hội, trong đó, có việc phân phối thuế do nhà nước thu cho các Giáo Hội tại Đức. 

Sau loạt bài giảng dạy tại Đại Học Yale trong hai năm 1952-1953, ngài cộng tác với Robert Morrison MacIver thuộc ĐH Columbia để đánh giá tự do học thuật và giáo dục tôn giáo tại các đại học công Hoa Kỳ, và sau đó, là đề nghị trợ giúp thuế cho các trường công và cho phép trình bày niềm tin tôn giáo tại các trường này. Dự án này vừa gây ảnh hưởng cả nước vừa giúp chính ngài hiểu thấu và trân quí luật hiến pháp của Hoa Kỳ. 

Vì vai trò công cộng càng ngày càng mở rộng đó, một số giám mục Hoa Kỳ bắt đầu tham khảo ý kiến cha Murray về các vấn đề luật lệ như kiểm duyệt và kiểm soát sinh sản. Ngài chống lại điều ngài cho là thái độ phản động và cưỡng chế nơi một số giám mục Hoa Kỳ, thay vì tham gia các cuộc tranh luận công cộng có chất lượng, một điều ngài cho là thu hút được cảm tình của công chúng nhiều hơn. Thay vì cưỡng chế, theo ngài, trình bày ý kiến luân lý trong ngữ cảnh tranh luận công khai sẽ giúp người Hoa Kỳ vừa thâm hậu hóa được cam kết luân lý của họ vừa duy trì được ‘nét thiên tài’ trong các quyền tự do của Hoa Kỳ. 

Tuy nhiên, chủ trương cho rằng một sự thật luân lý mới đang xuất hiện ở bên ngoài Giáo Hội đã đặt cha Murray ở thế đối nghịch với Đức HY Alfred Ottaviani, thuộc Văn Phòng Thánh (bộ Giáo Lý Đức Tin ngày nay). Nên năm 1954, Tòa Thánh yêu cầu cha ngưng mọi trước tác về tự do tôn giáo. 

Cũng chính vì thế, mãi tới khóa hai của Vatican II, tức năm 1963, cha mới được chỉ định làm chuyên viên cho Công Đồng và đã có công lớn làm người soạn thảo bản văn thứ ba và thứ bốn về tự do tôn giáo, được Công Đồng chấp thuận năm 1965 dưới tựa đề Dignitatis Humanae Personae

Sau đây, chúng tôi xin tóm lược tường trình đầu tiên của cha Murray trên tạp chí America ngày 19 tháng Mười năm 1963 liên quan tới cuộc tranh luận tại Công Đồng về sơ đồ Giáo Hội, tựa là Giáo Hội và Công Đồng. 

Sơ Đồ Giáo Hội

Theo cha Murray, cuộc tranh luận cuối năm 1963 khá sôi nổi: chỉ trong 4 ngày cuối, đã có 59 bài diễn văn xoay quanh sơ đồ Giáo Hội. Một số nghị phụ lên tiếng với tư cách cá nhân, số khác lên tiếng với tư cách nhóm. Nhiều vị muốn sửa đổi, nhiều vị muốn thêm bớt. Nhưng bên dưới các phát biểu xem ra quá khô khan này, là cả một bi kịch trí thức vĩ đại. 

Với một thái độ tự phát vĩ đại, các nghị phụ đã đáp ứng các đường hướng hết sức rõ ràng của Đức Phaolô VI trong diễn văn khai mạc đầy gợi hứng của ngài. Một cách mau mắn và đúng mục tiêu, ngài định ra tập chú cho khóa họp này của Công Đồng. Tập chú hàng đầu của nó là trình bày với thế giới điều chính ngài gọi là ý thức của Giáo Hội về chính mình. Việc này không đơn giản chỉ là vấn đề soạn ra một số mệnh đề có thứ tự lớp lang để nói lên bản chất của Giáo Hội. Ta cần một điều gì hơn thế. Giáo Hội phải cố gắng giải thích và tuyên bố với thế giới điều Giáo Hội là, điều Giáo Hội hiểu về chính mình, trong ý thức sâu thẳm của mình. 

Trong diễn văn khai mạc, Đức Giáo Hoàng cho biết rõ: nhiệm vụ chủ chốt này của Giáo Hội chưa được hoàn tất và có lẽ sẽ không bao giờ được hoàn tất. Ngài nhắc đến thông điệp của Đức GH Piô XII về nhiệm thể Chúa Kitô, nhưng thêm rằng thông điệp này chỉ giải đáp một phần khát vọng của Giáo Hội muốn nói lên bản chất riêng của chính mình. Ngài bảo rằng chính giới hạn của thông điệp này thúc đẩy Giáo Hội phải tuyên bố thấu đáo hơn nữa về chính căn tính của mình. Công Đồng chỉ có một cách duy nhất tiếp cận nhiệm vụ này mà thôi. Cách đó đã được chỉ ra trong sơ đồ Giáo Hội: Công Đồng phải quay về với Thánh Kinh và với trọn bộ các hình ảnh và biểu tượng Thánh Kinh qua đó bản chất Giáo Hội đã được mô tả trong Sách Thánh. Như Đức Piô XII đã nói trong cùng thông điệp trên, ở đấy, ta có cả một kho tàng bất tận để Giáo Hội mặc tình rút tỉa và không ngừng rút tỉa.

Các hình ảnh này nhiều lắm. Giáo Hội là tòa nhà được Chúa Kitô dựng lên, nhà Thiên Chúa, đền thờ Chúa Thánh Thần, nơi Thiên Chúa ngự. Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, là đá tảng Thiên Chúa, là cây nho của Người, là cánh đồng, là kinh thành của Người. Giáo Hội là Nàng Dâu của Chúa Kitô và là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Nhiều bài diễn văn của các nghị phụ đã đề cập tới các hình ảnh và biểu tượng Thánh Kinh này. Hình thức các bài diễn văn này khiến người ta nghĩ chúng chỉ là những gợi ý để sửa lại sơ đồ trước mặt mà thôi. Tuy nhiên, dưới cái bề mặt tầm thường ấy, người ta nghe như Giáo Hội đang cựa mình phấn đấu với nhiệm vụ khó khăn là tự phát biểu mình ra, nói cho mọi người thấy mình là ai. Đó chính là điều linh mục Murray gọi là bi kịch trí thức vĩ đại có tính tiềm ẩn mà người ta nghe được xuyên qua những phát biểu hết sức đơn giản tại Công Đồng. 

Theo linh mục Murray, trong nền thần học đương thời, người ta đã nói tới hình ảnh hàng đầu về Giáo Hội, đó là hình ảnh Giáo Hội như Thân Thể Chúa Kitô, một biểu tượng quen thuộc của văn hóa Hy Lạp được chính Thánh Phaolô sử dụng. Thoạt đầu, nhiều người nhìn nhận gía trị của hình ảnh này vì nó mang theo ý niệm thân mật giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Người, thậm chí cả ý niệm nên một theo nghĩa hữu cơ giữa Đầu và chi thể nữa. Tuy nhiên, càng ngày người ta càng thấy rõ không phải ai ai cũng hài lòng với biểu tượng này, vì cho rằng nó không lột tả được hình ảnh đích thực của Giáo Hội, để có thể lôi cuốn thế giới ngày nay. Hai hình ảnh khác đã được nhấn mạnh: thứ nhất, Giáo Hội như Dân Chúa Cha; sau đó là Giáo Hội như gia đình Thiên Chúa, trong đó, mọi người được kêu gọi trở thành con cái Thiên Chúa, em của Con trưởng, và cũng là con cái Đức Maria, Mẹ Giáo Hội nữa. 

Điều đặc biệt có ý nghĩa là hai giám mục truyền giáo đã hết sức nhấn mạnh tới ý niệm coi Giáo Hội như gia đình Thiên Chúa. Một vị xuất thân từ Nam Việt Nam, còn vị kia xuất thân từ Nam Phi. Tại Đông Á và Phi Châu, đơn vị cấu tạo nên xã hội luôn luôn vẫn là gia đình, và như hai vị trình bày, gia đình vẫn còn được rất mực kính trọng và tôn vinh. Bởi thế, khi Giáo Hội nói về chính mình như gia đình Chúa Cha, điều này gợi lên một âm vang hết sức rung động nơi linh hồn những người được trao phó cho các vị giám mục truyền giáo này coi sóc. 

Ngược lại, ý niệm coi Giáo Hội như Thân Thể Chúa Kitô ít lôi cuốn hơn, dù rất đúng sự thật. Dĩ nhiên, lúc này quá sớm để có thể biết luận điểm hiện nay sẽ dẫn tới những hậu quả nào. Nhưng người ta sẽ không ngạc nhiên nếu sơ đồ cuối cùng về Giáo Hội nhấn mạnh tới ý niệm coi Giáo Hội như Dân Chúa Cha và như gia đình của Người. Vì hai hình ảnh này, dù sao, cũng liên hệ mật thiết với nhau. 

Nếu điều trên xẩy ra, nó sẽ có ý nghĩa thần học rất lớn và sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới các tranh luận sau này tại Công Đồng. Như mọi người đều biết, hiện nay, trong các giới thần học, đang có hai quan điểm tổng quát về Giáo Hội, hay đúng hơn hai cách tiếp cận tổng quát đối với mầu nhiệm Giáo Hội. 

Một quan điểm coi Giáo Hội như được dẫn khởi từ sứ vụ của Phêrô và được tiếp tục trong sứ vụ giáo hoàng. Có thể nói, Đức Giáo Hoàng đứng trên đỉnh kim tự tháp, và từ ngài, các giám mục và các giáo sĩ tiếp nhận thánh quyền để phục vụ dân Chúa, là những người tạo thành nền của kim tự tháp. 

Còn quan điểm kia thì ngược lại. Nó bắt đầu với ý niệm dân Chúa hiểu như cuộc Tập Họp Vĩ Đại, tức Dân Tộc Của Thiên Chúa được Người kêu gọi vào gia đình của Người. Để phục vụ và hướng dẫn Dân Tộc này, Chúa Kitô đã thiết lập ra phẩm trật các tông đồ và những người kế vị các ngài, mà người đứng đầu chính là Đức Giáo Hoàng, tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa. Trong quan điểm này, các chức vụ trong Giáo Hội được quan niệm cách rõ ràng hơn: chúng được thiết lập như những thừa tác vụ để phục vụ nhu cầu của dân: họ cần lời Chúa, cần luật lệ của Người, cần Người hiện diện ở giữa họ qua lời nói và các bí tích.

Cả hai quan điểm tổng quát về Giáo Hội này đều đúng sự thật và hợp lệ, và chúng không hề loại bỏ nhau. Nhưng câu hỏi là: phải nhấn mạnh quan điểm nào? Hệ luận của mỗi quan điểm rất khác nhau về cả phương diện mục vụ lẫn phương diện đại kết. Cả hai quan điểm đều đã được đem ra thảo luận một cách minh nhiên tại Công Đồng. 

Các cuộc thảo luận hiện nay tại Công Đồng cũng có một ý nghĩa có tính phổ quát tức khắc, một ý nghĩa đối với toàn bộ thế giới Kitô Giáo. Thực vậy, chúng mời gọi mọi Kitô hữu tham gia vào cố gắng đang diễn ra tại Công Đồng, tức cố gắng thỏa mãn nhu cầu “phải nói lên một định nghĩa chính xác hơn về bản chất chân thực, sâu sắc và trọn vẹn của Giáo Hội, một Giáo Hội chính Chúa Kitô đã thiết lập và các tông đồ khởi sự xây dựng”. 

Có thể nói được rằng các nghị phụ công đồng như một toàn bộ đang tìm kiếm trong chính các ngài cách khám phá ra ý thức của Giáo Hội về chính mình. Các cộng đồng Kitô hữu khắp nơi cũng được mời tham gia vào cố gắng này. Câu hỏi đơn giản có thể là như sau: Hình ảnh nào hay đúng hơn các hình ảnh nào trong Thánh Kinh gợi được nhiều vang vọng nhất trong trái tim người Công Giáo khi họ suy tư về bản chất Giáo Hội, điều gì trong bản chất này thể hiện rõ nhất nơi họ?

Mỗi người Công Giáo có thể có cái nhìn khác. Người Công Giáo Hoa Kỳ có thể thích hình ảnh Dân Thiên Chúa hơn. Vì điều ấy thích hợp với lịch sử Giáo Hội họ: Giáo Hội ấy phần lớn là Giáo Hội di dân; các tín hữu Công Giáo từ hầu hết các quốc gia trên thế giới đã lũ lượt kéo nhau về đấy. Một cách nào đó, tại Hoa Kỳ, người dân đứng đầu và trên người dân ấy, Giáo Hội đã được xây dựng theo nghĩa chân thực của từ ngữ này. 

Giáo Hội Hoa Kỳ từng sản xuất ra những mục tử vĩ đại, nhưng các vị này vĩ đại chính vì giáo dân của họ vĩ đại về con số và vì nhu cầu của họ vĩ đại. Hơn nữa, Giáo Hội Hoa Kỳ luôn nổi tiếng về sự gần gũi giữa mục tử và giáo dân. Theo linh mục Murray, trong mấy thế hệ vừa qua, hình ảnh Giáo Hội như Dân Thiên Chúa có thể đã lu mờ phần nào. Chính vì thế, sinh hoạt Giáo Hội đã xuống dốc theo. Muốn canh tân Giáo Hội Hoa Kỳ, thiển nghĩ nên làm sống lại hình ảnh Giáo Hội như Dân Thiên Chúa. 

Dù sao, theo linh mục Murray, điều quan trọng là phải biến cố gắng lúc đó của Công Đồng thành một cố gắng chung của mọi người. Có điều cố gắng này phải thấm nhiễm một ý thức về mầu nhiệm Giáo Hội. Chỉ có ý thức này mới đem sức sống tới cho các cuộc thảo luận thần học khô khan bên trong Công Đồng mà thôi. Ý thức đó đã gợi hứng cho cố gắng của Công Đồng, nó cũng nên gợi hứng cho cố gắng của mọi người Công Giáo, để tất cả hiểu được sự thật trong câu nói của Đức Phaolô VI khi cho rằng Giáo Hội là “một điều bí ẩn tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa và do đó là một điều có bản chất khiến ta không ngừng khám phá như mẻ và sâu sắc hơn”. Câu hỏi đầu tiên tại Công Đồng “Giáo Hội là gì?” vì thế là một câu hỏi được đặt ra cho mọi người chúng ta, cho Giáo Hội như một dân tộc. 

Một vấn đề khác cũng đã được nêu ra, và càng thảo luận, nó càng trở nên khẩn thiết hơn. Đó là mối liên hệ giữa thừa tác vụ của Thánh Phêrô, tức quyền bính được Chúa Kitô ủy thác cho Thánh Phêrô và được tiếp diễn nơi các vị giáo hoàng, và hiệp đoàn giám mục hợp nhất. Vấn đề này gặp khó khăn lớn về thần học và không chắc gì Công Đồng có thể đưa ra được bất cứ giải pháp dứt khoát nào. Tuy nhiên, nó cũng đã được thảo luận một cách hăng say. 

Đàng sau vấn đề thần học sâu sắc này còn lấp ló một vấn đề khác nữa. Đó là mối liên hệ giữa Đức Giáo Hoàng, Giáo Triều Rôma và các giám mục khắp thế giới, cả như các cá nhân lẫn như một cơ phận. Vấn đề này do chính Đức Phaolô VI nêu lên, trước khoá hai Công Đồng, trong bài diễn văn đọc trước các thành viên Giáo Triều. Đây là vấn đề có thực và là một vấn đề hết sức tế nhị. Các khó khăn từ nó phát sinh có lẽ có tính thực tiễn hơn là lý thuyết. Nhưng những khó khăn này đều là những khó khăn có thực, muốn giải đáp chúng, ta cần tới sự khôn ngoan lớn lao cũng như ý thức lớn lao về hợp nhất tính của Giáo Hội. Chúng cũng đòi mọi người phải hết lòng góp phần lớn lao vào công trình canh tân Giáo Hội như một bước tiến tới mục tiêu hợp nhất Kitô Giáo hơn nữa. 

Vấn đề chót, một vấn đề được Giáo Hội Hoa Kỳ hết sức lưu ý, cả trên các diễn đàn tư lẫn diễn đàn công, là mối liên hệ giữa Giáo Hội và cộng đồng chính trị. Hiện nay, vấn đề Giáo Hội và Nhà Nước chưa nằm trong nghị trình của Công Đồng, nhưng chắc chắn nó sẽ được ghi vào. Vì hầu như mọi người đều đang đòi cho vấn đề này được mang ra thảo luận, hơn nữa xem ra xu hướng mục vụ và đại kết của Công Đồng càng khiến cho vấn đề này trở nên khẩn thiết. 

Vào lúc này, xem ra vấn đề trên có cơ được bàn tới khi Công Đồng chuyển sang mục tiêu thứ tư từng được Đức Phaolô mô tả là “cuộc đối thoại của Giáo Hội với con người thời đại”. Quả thực đây là nơi tốt nhất để nêu lên vấn đề người ta thường gọi là Giáo Hội và Nhà Nước nói trên. Chắc chắn Giáo Hội ngày nay được mời gọi đối thoại với giới chính trị, giới cai trị và giới luật pháp. Giáo Hội hiện nay có gì để nói với thế giới này, những người mà vai trò quyết định đối với phúc lợi của con người trở nên dứt khoát hơn bao giờ hết? Giáo Hội có gì để nói về chính mình trong tương quan với các chính phủ và thế giới chính trị? Những câu hỏi này bắt buộc phải được nêu ra. 

Đức Phaolô VI cho biết trong suốt 20 thế kỷ qua, Giáo Hội vốn luôn nói với thế giới về chính mình, nhưng ngài thêm: ý niệm Giáo Hội “vẫn cần được nói lên một cách chính xác hơn”. Nếu điều này đúng đối với chính bản thân Giáo Hội, thì nó càng đúng hơn nữa đối với mối liên hệ giữa Giáo Hội và cộng đồng chính trị, nhất là từ lúc cộng đồng chính trị này kinh qua nhiều phát triển hết sức sâu rộng trong lịch sử, đặc biệt trong mấy thế hệ gần đây. 
Vũ Văn An11/10/2013

Thương bé trai sinh ra không có chân tay

(Dân trí) - Sau khi sinh 1 bé trai không có hai chân hai tay, sản phụ ở ấp Phú Hiệp, xã An Phú, huyện Tịnh Biên (An Giang) cho biết không mong cháu làm được gì kỳ tích như anh người Úc gì đó bà sẽ làm hết mọi việc để bù đắp cho cháu.

Theo đó, ngày 8/11, chị Trần Thị Kim Tây ở ấp Phú Hiệp, xã An Phú, huyện Tịnh Biên (An Giang) sinh mổ bắt đứa con đầu lòng tại BV Đa khoa khu vực An Giang (TP Châu Đốc). Ca phẫu thuật thành công, bé trai - đứa con đầu lòng của chị Tây nặng 2,5 kg rất bụ bẫm, tuy nhiên bé không có hai tay và hai chân.
Bà Nguyễn Thị Rẩy, mẹ chồng chị Tây, buồn bã cho biết: “Vợ chồng thằng Ton (Lê Văn Ton - chồng chị Tây) cưới nhau cách đây ba năm. Lần có thai đầu tiên, con dâu tui bị té sẩy thai. Bởi vậy, đến lần có thai này giữ được cháu, gia đình tui mừng lắm, chỉ tiếc là cháu nó lại không có chân tay”.
Ngoài ra, bà Rẩy cho biết, vì sợ chị Tây sốc khi nhìn thấy đứa con đầu lòng không chân tay nên ngay sau khi sức khoẻ bé ổn định, bà Rẫy đã đưa cháu nội về nhà chăm sóc. Riêng chị Tây vẫn còn nằm lại ở bệnh viện để các bác sĩ chăm sóc do sức khoẻ chị chưa hồi phục hẳn.
Đến giờ này, chị Tây vẫn chưa được nhìn thấy mặt bé
Đến giờ này, chị Tây vẫn chưa được nhìn thấy mặt bé

Trao đổi với PV Dân trí, chị Tây cho biết: “Khi mang thai đến tháng thứ 5 chị có đến bệnh viện thị trấn Nhà Bàng (huyện Tịnh Biên) và cả bác sĩ tư (bác sĩ Liên) khám nhưng không phát hiện gì. Đến tháng thứ 8 tui đến bác sĩ Liên khám, bác sĩ cho biết bé bị dị tật, không có 2 chân và 2 tay và bảo tui đến bệnh viện Đa khoa khu vực An Giang khám lại lần nữa. Tui cũng đến đây khám và kết quả cũng y như bác sĩ Liên nói. Lúc đó có nhiều người bàn tán, bảo tui bỏ cháu nhưng tui không nỡ nên quyết định sinh bé!”.
Ngoài ra chị Tây còn cho biết, đến giờ này chị vẫn chưa thấy được mặt bé và cũng chưa đặt tên cho bé do chồng chị đi làm chưa về. Theo chị Tây trong mấy ngày qua các bác sĩ, y tá ở bệnh viện nhiệt tình hướng dẫn chị trong việc nuôi dưỡng bé, nhất là chú ý các vật dụng như quần áo, chăn màn,… không đè lên mũi bé. Ngoài ra ở giai đoạn bé biết lật, trườn,…do bé thiếu hai tay, hai chân nên gia đình cần chú ý đến bé để hỗ trợ bé khi cần thiết.
Đến giờ này, chị Tây vẫn chưa được nhìn thấy mặt bé
Khi đưa bé về nhà có nhiều người hiếu kỳ đến xem. Riêng chị Tây thì đang lo không biết vay hỏi ai để có số tiền 4 triệu đồng đóng viện phí khi xuất viện.

“Vợ chồng tui chưa nghĩ tới việc cháu nó làm được việc gì kỳ tích như anh người Úc gì đó (Nick Vujic), chỉ mong con nó khoẻ mạnh. Tuy nhiên, vợ chồng tui cố gắng làm hết mọi việc để bù đắp sự “thiếu hụt” cho cháu, nhất là làm thế nào để cho cháu ý chí sống mạnh mẽ khi cơ thể cháu khiếm khuyết cả tay và chân”, chị Tây chia sẻ.
Theo tìm hiểu của PV Dân trí gia đình chị Tây và anh Ton  thuộc hộ nghèo, quanh năm hai vợ chồng chị Tây sống bằng nghề đặt dớn bắt cá sinh sống. Hiện tại, ngoài nỗi buồn khi biết đứa con trai đầu lòng không có tay chân, chị Tây còn đau đáu nổi lo tiền viện phí (hơn 4 triệu đồng - PV) và tiền sữa, tã,… sắp tới cho bé, chẳng biết liệu thế nào.
 

Vì sao trẻ nhỏ VN chịu nhiều áp lực?

Trẻ em ở Việt Nam
Tiểu học nằm trong năm cấp học của hệ thống giáo dục chính thức ở Việt Nam
Gia đình tôi chuyển tới định cư tại Thụy Sỹ khi con trai lớn tôi đã được 9 tuổi, đứa nhỏ 4 tuổi. Trải nghiệm thực tế của một phụ huynh đã từng sống ở Việt Nam, đem lại cho tôi cơ hội nhìn nhận vấn đề giáo dục đa chiều hơn.
Việc có một xuất học cho con tại ngôi trường mơ ước đã trở thành một gánh nặng cho rất nhiều các bậc cha mẹ tại Việt Nam. Những người khá giả thường kỳ vọng “chạy” được cho con vào trường điểm.
Và nạn nhân cuối cùng lại là chính những đứa trẻ, chúng phải gánh chịu những áp lực học hành để “xứng đáng” với công sức, đồng tiền và kỳ vọng của cha mẹ.Những người lao động nghèo không đủ điều kiện cư trú lại mơ ước con vào được “trường công” để mức đóng góp nhẹ hơn. Và hầu như khi năm học cũ vừa kết thúc, các bậc phụ huynh đã hối hả lao vào các cuộc đua ngầm để chắc một xuất học cho con em mình.
Khi chúng tôi chuyển tới định cư tại Thụy Sỹ, món giấy tờ duy nhất nhà trường yêu cầu là một bản photo giấy khai sinh của các con tôi để nhà trường căn cứ vào đó xếp các cháu vào những lớp theo độ tuổi.
Luật pháp Thụy Sỹ quy định tất cả trẻ em đang cư trú trên đất Thụy Sĩ đều buộc phải tới trường khi đủ tuổi, không phân biệt quốc tịch hoặc thậm chí cả trường hợp trẻ cư trú bất hợp pháp theo cha mẹ.
"
Hệ thống giáo dục tại Thụy Sỹ miễn phí cho tất cả trẻ em cho tới khi chúng được 16 tuổi, cũng không có chuyện phân biệt trường điểm hay trường chuyên. Do đó trường lớp chưa bao giờ là một gánh nặng đối với các bậc phụ huynh tại Thụy Sỹ.

Bệnh thành tích

Do truyền thống văn hóa, đa số người Việt thường đặt kỳ vọng quá nhiều vào những đứa trẻ. Những hãng sữa dành cho trẻ em cũng nắm bắt được “yếu điểm” tâm lý này của người Việt để đưa ra những slogan quảng cáo rất kêu: Cao lớn hơn, thông minh hơn, vượt trội hơn.
Trong những câu chuyện trao đổi với nhau, các ông bố bà mẹ Việt Nam luôn hãnh diện khoe chuyện con em mình đạt thứ hạng học tập cao, có bao nhiêu điểm 10, bao nhiêu danh hiệu. Những đứa trẻ không có thành tích như kỳ vọng thường phải chịu nhiều sự quở phạt của gia đình, thậm chí bị chính cha mẹ bạo hành hay nhục mạ vì đã không làm cha mẹ tự hào như những trẻ giỏi giang khác. Trẻ nhỏ tại Việt Nam không chỉ phải sống cho riêng cuộc đời chúng, chúng còn bị mặc định nghĩa vụ làm rạng danh gia đình, phải lo sống cả phần vinh quang của người khác.
Trong trường học, các thầy cô cũng được ghi nhận thành tích cá nhân bằng cách đo đếm số lượng danh hiệu học sinh giỏi do mình phụ trách. Đây cũng là điều rất quan trọng liên quan tới sự thăng tiến hoặc lương, thưởng của người giáo viên. Ngay cả báo chí cũng không ngoại lệ khi luôn hết lời ca ngợi những tấm gương thành tích trong học tập.
Trẻ em ở Thụy Sỹ
Trẻ em ở Thụy Sỹ may mắn có nhiều lựa chọn ở học đường và ngoại khóa
Và vô hình chung, trẻ em lại vô tình trở thành nạn nhân cho những áp lực thành tích của người lớn, khi chúng phải miệt mài học đêm học ngày, hết học chính khóa tới phụ đạo, học thêm để đáp ứng những kỳ vọng đó… Không khó khăn gì khi nghe nhiều bậc phụ huynh than thở con em mình bận học tới nỗi mất cả tuổi thơ, thậm chí nhiều cháu còn bị stress nặng cũng bởi lý do học quá nhiều!
Quan niệm giáo dục của phương Tây lại hết sức khác biệt. Trẻ nhỏ không bị mang cái ách kỳ vọng quá nặng phải sống cho phần của người khác. Kỳ vọng lớn nhất cả gia đình và xã hội đặt vào mỗi đứa trẻ, chỉ đơn giản rằng khi chúng lớn lên sẽ trở thành một công dân hữu ích là đủ. Chúng có quyền tự định đoạt tương lai, cuộc đời chúng, người lớn chỉ ở bên khi chúng cần sự giúp đỡ hoặc lời khuyên bảo.
Thế nhưng, nghịch lý lại nằm ở rất nhiều những kiến thức tinh hoa nhân loại đều được truyền đạt cho học sinh từ khi chúng còn rất nhỏ. Nhưng tới tuổi trưởng thành thì ai cũng thừa nhận mình học được ở trường lớp chẳng được bao nhiêu, đặc biệt là các kỹ năng sống… Vậy thì nguyên do vì đâu?
Theo ý kiến cá nhân tôi, do giáo trình rườm rà nhưng không thiết thực và các phương pháp truyền đạt kiến thức của các thầy cô tại Việt Nam đa số đều rất máy móc, nhàm chán. Học sinh được học theo phương pháp đọc- chép, học thuộc lòng theo lý thuyết xuông… mà không kích thích được khả năng tư duy, sáng tạo. Cho nên, những kiến thức nhà trường mất rất nhiều thời gian truyền tải đã trở thành những kiến thức “chết”, không thực sự hữu dụng cho các em.
Tại Thụy Sỹ, cho tới khi trẻ được 13 tuổi, mục tiêu lớn nhất nhà trường đặt ra đơn giản chỉ là trẻ sẽ hoàn thiện các kỹ năng sống tự lập. Giáo trình cho trẻ ở độ tuổi này rất nhẹ so với trẻ cùng độ tuổi tại Việt Nam, và những bài học luôn được giáo viên hướng dẫn bằng cách bày thành những trò chơi, rồi đặt ra rất nhiều câu hỏi tại sao, thế nào…buộc trẻ phải tư duy để tìm lời giải. Trẻ học rất hứng thú, mà kiến thức cũng tự động “sống” trong đầu.

Thiếu những sân chơi…

"Một thực tế nữa phải nhìn nhận, rằng trẻ em ở Việt Nam rất thiếu không gian vui chơi, đặc biệt là trẻ em tại các thành phố.
Nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi rằng đôi lúc thương con bận học tối ngày, bố mẹ dù muốn đưa con đi chơi thư giãn và giải tỏa bớt năng lượng thừa nhưng chẳng biết đi đâu.
Những khu vui chơi lúc nào cũng chen lấn chật chội, công viên cũng chẳng khá khẩm gì hơn, đường xá thì nguy hiểm, trong khi không phải ai cũng có điều kiện kinh tế để thường xuyên đưa con em mình đi du lịch.
Vậy là cách an toàn nhất để giữ chân trẻ nhỏ ở nhà chỉ có ti-vi, hoặc chơi game giết thời gian rảnh rỗi. Môi trường sống của trẻ chỉ quanh quẩn từ nhà tới trường và từ trường về nhà, như cách người ta nuôi nhốt những chú gà công nghiệp. Trong môi trường như thế, thực khó để trẻ có thể sáng tạo hoặc có điều kiện rèn luyện các kỹ năng sống.
Học sinh Việt Nam
Hướng đạo sinh trong nhà trường đã bị hệ thống đoàn, đội ở Việt Nam thay thế, theo tác giả
Tại Thụy Sỹ, từ hàng trăm năm nay đã có rất nhiều gia đình lựa chọn cho con em gia nhập các hội đoàn Hướng đạo để được sinh hoạt gần gũi thiên nhiên, rèn luyện tinh thần yêu thương, tương trợ cộng đồng. Những em nhỏ hướng đạo sinh hàng tuần sẽ được đưa vào rừng, học cách chặt cây, bẻ cành, gây dựng những hang hốc cho thú nhỏ lẩn trốn hoặc phân biệt các loại nấm độc…
Tại Việt Nam, trước 1975 đã có rất nhiều hội đoàn Hướng đạo hướng giới trẻ rèn luyện các kỹ năng sống theo tinh thần không phân biệt tôn giáo, không liên quan tới thể chế chính trị… đã phát triển rất mạnh mẽ, thu hút số lượng thanh thiếu niên sinh hoạt rất đông tại Hà Nội và Sài Gòn.
Tiếc thay, sau 1975 toàn bộ các hội đoàn Hướng đạo Việt Nam đều bị xóa bỏ như cách người ta xóa bỏ các tàn dư của chế độ cũ, nhường sân chơi cho các đoàn Thiếu niên Tiền Phong, đội Kim Đồng… với các sinh hoạt đậm màu chính trị dành cho trẻ nhỏ, nhưng điều cơ bản là kỹ năng sống cho các em lại hoàn toàn không được quan tâm.
Cho tới cách đây khoảng 5 năm, những huynh trưởng tâm huyết từ thời chế độ cũ đã lặng lẽ gây dựng lại các hội đoàn hướng đạo sinh hoạt tại một số công viên ở TP.HCM nhằm hướng dẫn các em những bài kỹ năng sống theo tinh thần hướng đạo chung. Hoạt động này hiện nay không bị cấm, nhưng lại hoàn toàn không được khuyến khích.
Khi nào người ta còn chưa chịu chấp nhận những ưu điểm khác biệt vẫn diễn ra xung quanh thế giới, khi nào người ta chưa đặt trẻ em là trọng tâm của sự quan tâm thì trẻ em Việt Nam sẽ mãi còn là nạn nhân của đủ thứ áp lực đè nặng.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, người đang sống ở Thụy Sỹ.
Hương Vũ
Gửi cho BBC từ Neuchatel, Thụy Sĩ

Haiyan: Tình người sau trận bão

Cảnh hoang tàn ở thành phố Tacloba, Philippines
Bão Haiyan khiến hàng ngàn người thiệt mạng ở Philippines và khi quét qua Việt Nam đã suy yếu từ siêu bão thành bão nhiệt đới cường độ mạnh.
Tại Việt Nam, đã có khoảng 600.000 người được sơ tán khỏi các vùng có nguy cơ bị ảnh hưởng lớn, kéo dài từ miền Trung tới miền Bắc do Haiyan đột ngột chuyển hướng khác với dự báo.


Một số khu vực ở Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Giang cũng bị mất điện chủ yếu do cơ quan chức năng chủ động cắt điện trong lúc mưa bão để tránh tai nạn.Truyền thông Việt Nam đưa tin có ít nhất 11 người thiệt mạng, song phần lớn là trong quá trình chuẩn bị đối phó với bão.

Những nơi mất điện do lưới điện bị ảnh hưởng đang được khắc phục để trường học và các tòa nhà công cộng có thể trở lại hoạt động.
Đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng lớn của bão. Có ít nhất sáu người thiệt mạng ở thành phố Tam Á, và 207 chuyến bay bị hủy, nhiều cây lớn bị bật gốc, giao thông gián đoạn, theo Tân Hoa Xã.
Philippines hứng chịu bão mạnh nhất do nằm ngoài khơi ngay trên đường đi của bão. Cảnh đổ nát và hỗn độn ở Philippines được so sánh với trận sóng thần ở Nhật năm 2011.

Bão Haiyan liên tục thay đổi hướng đi khiến nhiều tỉnh trên khắp Việt Nam phải chuẩn bị trong tình trạng khẩn cấp
Xác người nằm rải rác khắp nơi, trên sông, trên phố, thậm chí cả trên cành cây. Chuột từ các xó xỉnh cũng đổ ra đường vì nước lụt.
Một phóng viên của BBC tả lại trong chương trình radio Outside Source, “người ta trở nên hung hãn hơn vì thiếu ăn, thiếu nước,” cô nói. “Truyền thông vớ lấy các nạn nhân còn sống sót, đang khóc dở hay trong cơn hoảng loạn vì mất người thân để phỏng vấn, có thể vì muốn ghi hình, nhưng cũng là cách để các nạn nhân nhắn tìm người nhà thất lạc”.
Hơn chín triệu người ở Philippines đang chịu cảnh thiếu nước sạch, thiếu ăn và không nơi trú thân.
Quốc tế cũng đang nỗ lực giúp quốc gia này. Hoa Kỳ, châu Âu và Anh Quốc đã gửi viện trợ, thế nhưng các nhân viên cứu hộ cho biết rất nhiều nơi không thể tiếp cận được.
Người ta cũng ngừng đếm các thi thể nạn nhân để tập trung ưu tiên cứu trợ.

Chia sẻ và động viên

Cùng một sự kiện thiên tai lại khiến một số người Việt Nam và Philippines xích lại gần nhau hơn.
Chia sẻ của BBC Tiếng Việt trên Facebook về lời nhắn của một bạn Philippines nhờ gửi tới người Việt Nam sau khi bão quét qua nước mình đã nhận được vài nghìn bình luận chia sẻ, động viên nhau vượt qua khó khăn từ người dân cả hai quốc gia.







Một bình luận của Malutz Dela Rosa Andeza từ Philippines viết: “Hiện nay chúng tôi phải nhận giúp đỡ từ những người khác, nhất là quần áo, thực phẩm và những thứ khác nữa... Gửi tới những người có trái tim, các bạn có thể giúp đỡ đất nước tôi. Thật là buồn... bây giờ lại đang có áp thấp nhiệt đới và đường đi của nó cũng giống với Hayan."
Facebooker Tran Phan Kieu Anh từ Việt Nam thì viết: Vững mạnh nhé và tôi hy vọng các bạn sẽ vượt qua. Tôi biết Philippines và Việt Nam luôn phải đối mặt với thiên nhiên. Thật không công bằng... Dù sao thì, dũng cảm nhé, Chúa phù hộ Philippines và Việt Nam.
Một người Philippines khác, Alvin Siervo Valenzuela viết: “Cảm ơn những lời cầu nguyện và ủng hộ từ người dân Việt Nam. Tôi rất trân trọng điều đó...”
Madeline S. De Leon viết trước khi bão vào Việt Nam: "Tôi từ Philppines, đất nước tôi vừa bị phá hủy bởi cơn siêu bão. Chúng tôi ở Manila thì may mắn hơn. Tim tôi chảy máu vì những gì đang xảy ra ở Tacloban, Bohol, Capiz và những nơi cũng bị ảnh hưởng khủng khiếp."
"Tôi hiểu nỗi lo sợ của người Việt Nam. Cầu nguyện cho Philippines và Việt Nam. Tôi mong rằng Việt Nam sẽ không phải chịu những hậu quả mà người dân nước tôi đang phải gánh chịu."
Thế nhưng, Haiyan vừa qua thì lại có tin áp thấp nhiệt đới đang di chuyển nhanh từ vùng biển Philippines vào biển Đông và có thể phát triển thành bão mạnh.
Người Việt Nam và Philippines có lẽ lại đang trong tư thế chờ đợi, phòng thủ cho áp thấp nhiệt đới, cho mưa lụt, cho gió lớn.

Bí tích hòa giải


Sự hòa giải liên tục trong cuôc sống kitô, tự nó, đã thuộc trật tự bí tích rồi, bởi các cấu trúc giao ước trong nhiệm cuộc cứu độ mới. Trong nền tảng nó là bí tích và Giáo Hội trong nghĩa ơn thánh khiến cho kẻ có tội cảm nhận được sự hối lỗi đích thật đụng chạm tới con người như là chi thể của Giáo Hội hay đang tiến tới với Giáo Hội. Bởi vì Giáo Hội là bí tích triệt để, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự hòa giải, mà Thiên Chúa muốn ký kết với thế giới chấp nhận tất cả mọi sự dưới quyền của một thủ lãnh duy nhất là Chúa Kitô. Ngoài ra sự hòa giải cũng là bí tích, bởi vì sự hối lỗi chân thành có chiều kích chuyên biệt của bí tích sám hối. Thật thế, sự hối hận tạo ra tất cả một năng động mở ra trong thời gian theo một lộ trình dài ngắn ít nhiều và phức tạp tùy từng người và tùy các hoàn cảnh, lộ trình kết thúc với bí tích giải tội. Trong bối cảnh này bí tích giải tội là tột đỉnh của năng động hoán cải và hòa giải nội tâm và ngoại tại được sống một cách cụ thể trong cuộc sống thường ngày và nó được dự phóng như là việc cử hành của Chúa Giêsu Kitô nhờ ơn thánh của nó mà lộ trình hoán cải và hòa giải đã có thể thực hiện. Sự hòa giải bí tích bao gồm một con đường trước đó, có mục đích và nội dung là việc từ từ trở về với Thiên Chúa và với các anh chị em khác: sự hoán cải là việc thành toàn, là cực kết thúc con đường ấy.

Như thế, bí tích sám hối không phải là một cử chỉ đơn độc, mà được móc nối và điều kiện hóa bởi một lộ trình có thể được gọi là khai tâm cho sự sám hối, khai tâm cho việc hòa giải. Xét cho kỹ, bí tích sám hối tác động trên một nền tảng có tính cách bí tích và Giáo Hội, làm thành nền lõi cuộc sống chúng ta. Trong một nghĩa nào đó, nó đến để thánh hiến một cuộc sống sám hối và hòa giải thường hằng. Nói một cách khác, nó đến để thực hiện một sự hiện diện tích cực trên nền của một sự hiện diện bình thường, trong nghĩa bí tích sám hối giống như một điểm quy tụ, nơi người ta tập trung cuộc sống sám hối mọi ngày. Sự khác biệt giữa các dấu chỉ của mọi ngày và dấu chí bí tích đó là dấu chỉ bí tích đưa chúng ta tới chỗ xác nhận tuyệt đối sự chắc chắn chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Và điều này có nghĩa là bí tích sám hối cũng là một món quà mới: nó không chỉ có nghĩa là Thiên Chúa đã làm, mà cũng có nghĩa là nó đến trao ban cho chúng ta một cái gì mới từ phía Thiên Chúa, là Đấng qua bí tích sám hối hoàn thành việc hòa giải Người đã bắt đầu; hòa giải tội nhân với chính Thiên Chúa và với Giáo Hội, mà họ là chi thể. Đây là món qùa tuyệt đối mới mẻ, được thực hiện trong bí tích: món qùa mới, bởi vì nó là sự diễn tả cuối cùng của một cuộc gặp gỡ tiệm tiến giữa Thiên Chúa và con người, là dấu ấn đóng trên một sự hòa giải đã bắt đầu từ cả hai phía, trong dấu chỉ của sự thành toàn vĩnh viễn. Nó là một món qùa mới bởi vì nó là điểm tới của một lộ trình, mà vì chiều kích bí tích của nó ngay từ điểm khởi hành vì sự kiện các cấu trúc của giao ước, nó đã chỉ có thể hiện hữu trong việc hướng tới chính bí tích. Chính trong viễn tượng này mà chúng ta duyêt xét một cách ngắn gọn cấu trúc của bí tích sám hối.

Điểm thứ nhất, bí tích sám hối là việc Giáo Hội thời sự hóa lời cứu độ. Sách mới về bí tích sám hối khẳng định rằng: ”bí tích sám hối phải bắt đầu từ việc lắng nghe lời Chúa, bởi vi chính với lời Người Thiên Chúa mời gọi sám hối và đưa tới chỗ hoán cải con tim”. Việc thời sự hóa lời Chúa này của Giáo Hội giúp chúng ta khám phá ra rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước: Người đã hướng tới con người trước, và đã cho nó chia sẻ ước muốn thiết lập một giao ước với nó; Người đã đưa ra sáng kiến hòa giải trước với thế giới tội lỗi. Người đã làm tất cả những gì có thể để cho con người trở về với Người, đến độ nó chỉ là bước cuối cùng hầu như tự nó mà đến: gắn bó trong đức tin với một tình yêu tha thứ. Chính lời Chúa khiến cho chúng ta ý thức được rằng mình là kẻ tội lỗi. Nó là mạc khải giúp chúng ta hiểu khía cạnh sâu xa của cuộc sống con người trong các chiều kích siêu nhiên đích thật của nó, và chính trong trường học này mà chúng ta có thể hiểu một cách thực sự ý nghĩa của tội lỗi và ơn tha thứ. Nhưng dưới ánh sáng lời Chúa điều đầu tiên mà người tội lỗi hiểu không phải là tội của mình, mà là Thiên Chúa của tình yêu, của lòng lành, của tình thương xót; và trong mức độ, trong đó nó hiểu chương trình tình yêu của Thiên Chúa, nó cũng sẽ tìm ra hạt giống của tội lỗi, của sự hoán cải và hòa giải.

Chỉ có chiều sâu của tình yêu cho phép đo lường đươc chiều sâu của tội lỗi. Các tội sẽ không trầm trọng như vậy, nếu Thiên Chúa không là tình yêu. Nhưng thật kinh khủng là những kẻ tội lỗi đối với Đấng đã yêu thương chúng ta như vậy. Việc xét mình khi đó trở thành việc đọc hiểu cuộc sống chúng ta dưới ánh sáng của lời Chúa, và các niềm hy vọng lớn lao, mà tiếng gọi của Người mở ra cho chúng ta. Đây không phải là một thực hành tự tố cáo đổ lỗi và làm cho chúng ta trở thành cứng nhắc trong một lương tâm xấu, dẫn đưa tới chỗ hối hận như là một khép kín trong chính mình, nhưng trái lại nó là một việc đọc hiểu đưa chúng ta tới chỗ hối hận, đau đớn, nhưng hy vọng nơi tình yêu nhân từ xót thương của Thiên Chúa. Việc đọc hiểu trở lại cuộc sống dưới ánh sáng lời Chúa này đem theo một tư tưởng lạc quan và tích cực của việc cáo tội. Đây không phải là một tố cáo nặng nề các lỗi lầm, mà là một việc xưng thú được thực thi dưới ánh sáng lòng thương xót của Thiên Chúa, và nó bao gồm ba chiều kích: thừa nhận các tội lỗi đã phạm chống lại Thiên Chúa, chúc tụng Thiên Chúa và khẳng định đức tin.

Việc xưng tội trước hết là một hành động của một hối nhân: điều này diễn tả và thực hiện một cách hoàn toàn nhân bản sự hối hận linh hoạt họ. Khi diễn tả một cách không quanh co, sự hối hận đối với một lỗi lầm, chúng ta ý thức được một cách sâu xa hơn điều đã làm, và sự sám hối cũng sâu xa hơn. Trong lúc hối nhân xưng thú tội lỗi của mình với Thiên Chúa, họ không chỉ muốn thừa nhận các lỗi lầm của mình, nhưng cũng muốn được ơn tha thứ, bằng cách khẩn nài trong lòng của toàn thể Giáo Hội cùng với các anh chị em khác và dưới sự hướng dẫn của Chúa Kitô. Như thế việc tố cáo tội lỗi được thu nhận trong một cử chỉ đức tin và lời chúc tụng mà thánh vịnh 50 là một diễn tả kiểu mẫu. Tác giả thánh vịnh là vua Đavít thân thưa với Chúa: ”Lậy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con xin Ngài thanh tẩy. Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trước mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai... Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm. Lậy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con Thần Khí Thánh của Ngài. Xin ban cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, vá lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con... Lậy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ, xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính. Lậy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài. Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận. Lậy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê”.

Tín hữu tuyên xưng sự thánh thiện của Thiên Chúa và ý thức được rằng mình ở dưới mức mô thức thánh thiện là Thiên Chúa, Đấng mời gọi mọi người sống thánh thiện: ”Các ngươi phải thánh thiện vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Lv 19,2). Chúa Giêsu cũng lập lại giáo huấn này của sách Lêvi: ”Vậy anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Tín hữu tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng công chính, không trong nghĩa trả thù báo oán, nhưng trong nghĩa bẻ gãy nó và kết thúc với cuộc sống tội lỗi. Tín hữu tuyên xưng sự chắc chắn của tình yêu Thiên Chúa và ơn tha thứ của Ngài: Chúa Kitô đã mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là tình yêu, xưng tội và nói lớn tiếng lên rằng chúng ta tin nơi tình yêu thương xót ấy. Như vậy việc xưng thú tội lỗi là một cử chỉ phụng tự đích thực. Xưng thứ tội lỗi là loan báo sự thánh thiện, lòng thương xót, sự công thẳng của Thiên Chúa. Xưng thú có nghĩa là xưng ra các tội riêng của mình, tạ ơn, chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa và lòng lành của Người. Cùng một từ diễn tả cùng một thực tại: xưng thú rằng mình là kẻ có tội có nghĩa là loan truyền rằng Thiên Chúa là thánh, là Đấng thương xót và công bằng.

Điểm thứ hai là sám hối, xá giải và lời cầu hữu hiệu của toàn thể Giáo Hội. Qua dấu chỉ của toàn thể cộng đoàn Giáo Hội Thiên Chúa ban ơn tha tội cho hối nhân đáp lại dấn thân sám hối, dấu chỉ sự hoán cải của họ. Sự can thiệp này qua trung gian Giáo Hội được biểu lộ ra bằng nhiều cách, nhưng đặc biệt là qua vị linh mục thừa thác đọc các lời hữu hiệu của việc tha tội. Công thức tha tội diễn tả sự tin tưởng nơi đức tin của Giáo Hội, thánh hiến và nâng cao sự sám hối của tội nhân, bằng cách làm cho họ tham dự vào công trình cứu chuộc được Giáo Hội tiếp tục. Chính Giáo Hội, qua vị thừa tác của mình đọc lên lời tha tội này như việc biểu lộ hữu hiệu tình yêu phục sinh của Thiên Chúa. Sự hữu hiệu của lời đó đến từ sự kiện các giám mục và linh mục đã có và đã đọc lên trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô và trong Thần Khí của Người. Nhưng việc dùng quyền tha tội của các vị thừa tác phẩm trật không tách rời khỏi sự cộng tác của cộng đoàn.

Lời cầu nguyện của cộng đoàn được đức ái đồng hành chỉ là lời cầu nguyện và lòng bác ái của Chúa Kitô trên trời, được làm cho trở nên hữu hình và hiện diện cho một người xác định, trong một thời điểm xác định, tại một nơi xác định của lịch sử. Trong suốt lịch sử giao động và sinh động của bí tích sám hối chúng ta có thể kiểm thực sự can thiệp này của cộng đoàn cho người có tội. Giáo Hội hướng về Thiên Chúa để xin ơn tha thứ cho các anh em và con cái mình, nâng đỡ các hối nhân trong cố gắng hoán cải của họ, trợ giúp họ nhổ tận gốc rễ tội lỗi và các dấu vết của nó trong cuộc sống. Việc phục hồi hiện thực được trong đường hướng này như được trình bày trong sách bí tích sám hối mới rất là ý nghĩa. Như thế, sự hòa giải bí tích của tín hữu kitô tội lỗi là một cử chỉ của toàn thể cộng đoàn, chứ không phải chỉ là của giáo quyền. Sự can thiệp của vị thừa thác với và bên trong cộng đoàn khiến cho việc trung gian của Giáo Hội được rõ ràng hơn, và đưa nó tới sự hữu hiệu của bẩy bí tích.

Linh Tiến Khải11/6/2013
(Thần Học Kinh Thánh bài số 1173)