Đức Phanxicô và phương thức tân phúc âm hóa


Năm Đức Tin sắp tới ngày kết thúc, dù việc phúc âm hóa vẫn luôn là ưu tiên hàng đầu của Giáo Hội. Tuần này, Zenit có hai bản tin quan trọng về sứ mệnh phúc âm hóa trong Giáo Hội.

Tiền đình dân ngoại

Không phải đến thời Đức Phanxicô, Giáo Hội Công Giáo mới mạnh dạn nói chuyện với người vô tín ngưỡng. Sáng kiến “Tiền Đình Dân Ngoại” vốn là sáng kiến của vị tiền nhiệm ngài, nhằm khuyến khích người Công Giáo đón mời người vô tín ngưỡng bước vào ‘tiền đình” Đức Tin. 

Ngày 14 tháng Mười vừa qua, có tin một hội nghị thuộc sáng kiến này sẽ được tổ chức tại Bá Linh, Đức, từ ngày 26 tới ngày 28 tháng Mười Một, dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa và Hội Đồng Giám Mục Đức. 

Theo Đức TGM Zollititsch, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, đây sẽ là diễn đàn đối thoại giữa người tin và người không tin. Ngài cho hay: “Tại đây, người tin, người bất khả tri và người vô thần sẽ gặp nhau tại thủ đô để thảo luận về các vấn đề đã được chọn lựa: họ sẽ thảo luận sâu sắc thuyết nhân bản đạo đức, sự cao cả của niềm tin vào Thiên Chúa, sự tự do của nghệ thuật và thẩm mỹ, tôn trọng thiên nhiên, các khía cạnh và mô thức của con người, và cả các khía cạnh của ơn thánh và phẩm giá con người cùng lòng sùng kính nữa”. 

Nhân dịp này, sẽ có cuộc diễn hành tại Viện Bảo Tàng Bode, nơi nổi tiếng trưng bày cả các công trình nghệ thuật thánh lẫn nghệ thuật đời. Theo Đức TGM, đây là “một biểu thức khôn sánh nói lên hành vi và cuộc đời của cả người tin lẫn người không tin”. 

Cuộc diễn hành được biên đạo vũ này có chủ đề chính là câu hỏi “Bạn có tin điều bạn biết hay bạn có biết điều bạn tin hay không?”. Chủ đề này cùng với việc phát biểu âm nhạc và nghệ thuật bằng thể lý nhằm nói lên niềm hy vọng vào cuộc đối thoại giữa tín hữu và người vô thần. 

Linh mục và là một tiến sĩ Dòng Tên, Hans Langendörfer, Tổng Thư Ký của HĐGM Đức, quả quyết rằng biến cố này nhằm nói lên sự hiện diện trí thức của Giáo Hội, cho phép một cuộc đối thoại cụ thể với người khác. Tiến sĩ Joachim Hake, Giám Đốc Hàn Lâm Viện Công Giáo của TGP Bá Linh, tuyên bố rằng “Tiền Đình Dân Ngoại” không nhằm có đại diện của nhiều xu hướng khác nhau bàn về các niềm tin của họ, nhưng đúng hơn là phương tiện để lên tiếng một cách tôn trọng và hiểu biết qua các kinh nghiệm sống khác nhau của nhiều người khác nhau. 

Đức TGM Zollitsch cho rằng cuộc phỏng vấn của Đức Phanxicô dành cho nhà báo vô thần Eugenio Scalfari mới đây là điển hình hoàn hảo cho cuộc đối thoại lần này. “Nó là lời mời gọi tôn trọng ý kiến của người khác”. 

Dạy bằng cách đi ra ngoài

Chịu rời nơi thánh của Đền Thờ để bước ra tiền đình dân ngoại nói chuyện với người không cùng chia sẻ niềm tin với mình đã là một bước can đảm rồi, nhưng với Đức Phanxicô, như thế hình như vẫn chưa đủ. Ta cần rời cả phòng áo để bước hẳn ra ngoài phố nữa. 

Tiến sĩ Edward Mulholland cho hay: thực ra đó chính là mệnh lệnh của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Mátthêu 28:19. Phần lớn các bản dịch Thánh Kinh đều cho rằng câu này chứa hai mệnh lệnh: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Nhưng trên tường ngôi nhà nguyện ở lầu một của Đại Học Gregoriana tại Rôma, câu ấy vỏn vẹn được thu về một mệnh lệnh viết bằng tiếng Hy Lạp: “πορευθέντες μαθητεύσατε."

Từng chữ, ta có thể dịch câu trên là “hãy dạy dỗ bằng cách đi ra ngoài” vì “đi ra ngoài” đây ở thể phân từ (participle). Tiếng La Tinh, vì ít phân từ hơn, nên đã viết hai động từ ấy ở thể mệnh lệnh. Các bản dịch sau này thường mô phỏng theo bản Phổ Thông.

Thánh Giêrôm không bao giờ muốn làm ta ra thiếu sót, nhưng chắc chắn nguyên bản Hy Lạp có phong phú hơn: chữ đầu mô tả cung cách thực thi việc dạy dỗ. Ta nên làm muôn dân trở thành môn đệ bằng cách đi ra ngoài. Đi ra ngoài là phần thiết yếu của việc làm người ta thành môn đệ Chúa Kitô. 

Trong bài diễn văn ngày 14 tháng Mười với Hội Đồng Giáo Hoàng về Cổ Vũ Tân Phúc Âm Hóa, Đức Phanxicô nêu ra ba điểm chính: tính tối thượng của việc làm chứng, tính khẩn trương của việc đi ra ngoài gặp gỡ người khác, và dự án mục vụ đặt trọng tâm vào điều cốt yếu. 

Điều cốt yếu đây dĩ nhiên là Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đời ta phải phản ảnh Người. Ta phải làm chứng cho Người, và ta phải đi ra ngoài để làm thế. Đức Phanxicô dạy ta: “Tân phúc âm hóa là làm đời sống đức tin bừng tỉnh trở lại trong tâm trí người đồng thời với ta. Đức tin là một ơn phúc của Thiên Chúa, nhưng điều quan trọng là Kitô hữu chúng ta phải biểu lộ cách sống đức tin của ta một cách cụ thể, qua tình yêu, hoà hợp, vui tươi lẫn đau khổ, vì điều này khiến người ta đặt câu hỏi, giống như buổi đầu của Giáo Hội, rằng ‘Tại sao họ lại sống như thế? Điều gì thúc giục họ làm vậy?’ Những câu hỏi này đem ta tới tâm điểm của việc phúc âm hóa là làm chứng cho đức tin và đức ái”. 

Nhưng nếu muốn làm chứng, muốn biểu lộ đức tin, ta không thể ngồi một chỗ, chờ người ta tới, mà phải dạy bằng cách đi ra ngoài. Linh mục James Schall, Dòng Tên, nhân dịp này, đã lưu ý tới tinh thần truyền giáo của Đức Phanxicô qua chính lời ngài như sau: “Tân phúc âm hóa là một chuyển dịch đổi mới hướng về những ai đã mất đức tin và ý nghĩa sâu sắc của đời người. Tinh thần năng động này là một phần trong sứ mệnh cao cả của Chúa Kitô nhằm đem sự sống đến cho thế gian, đem tình yêu Chúa Cha đến cho nhân loại. Con Thiên Chúa đã ‘ra khỏi’thân phận thần linh của mình và tới gặp ta. Giáo Hội hiện diện ngay bên trong chuyển dịch này, nên mọi Kitô hữu đều được mời gọi đi ra ngoài và gặp gỡ người khác, đối thoại với những người không cùng suy nghĩ như ta, với những người có niềm tin khác, hay những người không hề có bất cứ niềm tin nào. Để gặp gỡ mọi người, vì tất cả chúng ta đều có chung điều này: ta được tạo dựng giống hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa”. 

Bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng

Sau đây là nguyên văn bài diễn văn ngày 14 tháng Mười của Đức Phanxicô với Hội Nghị Toàn Thể của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Cổ Vũ Tân Phúc Âm Hóa

Anh chị em thân mến

Tôi xin chào mừng toàn thể anh chị em và cám ơn anh chị em về những gì anh chị em đã làm để phục vụ Tân Phúc Âm Hóa, cũng như công trình của Năm Đức Tin. Tôi xin hết lòng cám ơn! Hôm nay, điều tôi muốn thưa cùng anh chị em có thể tóm tắt ở ba điểm: tính tối thượng của việc làm chứng, tính khẩn trương của việc đi ra ngoài để gặp gỡ, dự án mục vụ đặt trọng tâm vào điều cốt yếu. 

Thời nay, ta thường được chứng kiến một thái độ dửng dưng đối với đức tin, coi nó như không ăn nhằm gì tới đời sống con người nữa. Tân phúc âm hóa là làm đời sống đức tin bừng tỉnh trở lại trong tâm trí người đồng thời với ta. Đức tin là một ơn phúc của Thiên Chúa, nhưng điều quan trọng là Kitô hữu chúng ta phải biểu lộ cách sống đức tin của ta một cách cụ thể, qua tình yêu, hoà hợp, vui tươi lẫn đau khổ, vì điều này khiến người ta đặt câu hỏi, giống như buổi đầu của Giáo Hội, rằng “Tại sao họ lại sống như thế? Điều gì thúc giục họ làm vậy?” Những câu hỏi này đem ta tới tâm điểm của việc phúc âm hóa là làm chứng cho đức tin và đức ái. Thời nay, điều ta đặc biệt cần là các chứng tá đáng tin, những người dùng đời và lời mình biến Tin Mừng thành hữu hình, làm bừng lên việc lôi cuốn người ta tới Chúa Giêsu Kitô, tới vẻ đẹp của Thiên Chúa. 

Quá nhiều người đã rời xa Giáo Hội. Quả lầm lẫn khi ta đổ lỗi cho bên này hay bên nọ; thực vậy, đây không phải là chuyện lỗi lầm hay không. Có những trách nhiệm trong lịch sử của Giáo Hội và lịch sử những người của Giáo Hội, trong một số ý thức hệ và cả trong các con người cá thể nữa. Là con cái Giáo Hội, ta phải tiếp tục tiến theo con đường của Vatican II, nghĩa là lột bỏ khỏi ta những điều vô ích và có hại, những an toàn giả tạo của thế gian đang đè nặng lên Giáo Hội và làm hại tới khuôn mặt thực sự của Giáo Hội. 

Ta cần có những Kitô hữu biết biến lòng thương xót Chúa thành hữu hình đối với con người ngày nay, cả lòng âu yếm của Người dành cho mọi tạo vật nữa. Mọi người chúng ta đều biết rằng cuộc khủng hoảng của nhân loại hiện nay không phải hời hợt mà rất sâu xa. Vì thế, Tân Phúc Âm Hóa, trong khi kêu gọi ta can đảm đi ngược dòng, từ bỏ ngẫu thần để hướng về Thiên Chúa duy nhất chân thực, chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ thương xót, được làm thành bởi cử chỉ và thái độ trước khi bằng lời. Giữa lòng nhân loại hiện nay, Giáo Hội nhủ ta rằng: Hãy đến với Chúa Giêsu, tất cả những ai đang lao nhọc và mang gánh nặng, và các bạn sẽ tìm được an ổn cho linh hồn” (Xem Mt 11:28-30). Hãy đến với Chúa Giêsu. Chỉ có Người mới có lời ban sự sống đời đời.

Mỗi người đã chịu phép rửa đều là “người mang Chúa Kitô” (a “cristoforo”) như các giáo phụ xưa quen nói. Bất cứ ai đã gặp Chúa Kitô, như người đàn bà Samaria bên giếng nước, đều không thể giữ trải nghiệm này cho riêng mình được, trái lại đều muốn chia sẻ nó, để đem Chúa Giêsu đến với người khác (xem Ga 4). Với mọi người chúng ta, ai cũng phải tự hỏi mình xem liệu người gặp ta có nhận ra trong đời ta sự ấm áp của đức tin, có thấy trên gương mặt ta niềm vui đã gặp Chúa Kitô chăng! 

Ở đây, ta chuyển qua khía cạnh thứ hai: gặp gỡ, đi ra ngoài để gặp gỡ người khác. Tân phúc âm hóa là một chuyển dịch đổi mới hướng về những ai đã mất đức tin và ý nghĩa sâu sắc của đời người. Tinh thần năng động này là một phần trong sứ mệnh cao cả của Chúa Kitô nhằm đem sự sống đến cho thế gian, đem tình yêu Chúa Cha đến cho nhân loại. Con Thiên Chúa đã ‘ra khỏi’thân phận thần linh của mình và tới gặp ta. Giáo Hội hiện diện ngay bên trong chuyển dịch này, nên mọi Kitô hữu đều được mời gọi đi ra ngoài và gặp gỡ người khác, đối thoại với những người không cùng suy nghĩ như ta, với những người có niềm tin khác, hay những người không hề có bất cứ niềm tin nào. Để gặp gỡ mọi người, vì tất cả chúng ta đều có chung điều này: ta được tạo dựng giống hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa. Ta có thể đi ra ngoài để gặp gỡ mọi người, một cách không sợ sệt và không để mất tư cách chi thể của mình. 

Không ai bị loại ra khỏi niềm hy vọng được sống, ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Giáo Hội được sai đi để làm bừng lên niềm hy vọng này ở mọi nơi, nhất là ở những nơi đang bị ngột ngạt bởi điều kiện hiện sinh khó khăn, đôi lúc phi nhân, ở những nơi hy vọng không còn hơi thở mà đã chết ngộp. Ta đang cần oxy Tin Mừng, cần hơi thở của Thần Trí Đấng Phục Sinh, để làm nó bừng cháy trở lại trong các tâm hồn. Giáo Hội là nhà có cửa luôn mở rộng không những để mọi người tìm được sự đón mời, được thở bầu khí yêu thương và hy vọng, mà còn để ta có thể ra ngoài đem tình yêu và hy vọng này (cho người khác). Chúa Thánh Thần thúc đẩy ta ra khỏi nơi ta đóng khung và dẫn ta tới các ngoại biên của nhân loại. 

Tuy nhiên, trong Giáo Hội, ta không thể phó mặc mọi điều trên cho may rủi hay ứng biến bừa bãi. Chúng đòi một cam kết chung đối với một phương án mục vụ có thể gợi lên điểu chủ chốt nghĩa là đặt trọng tâm vào đấng chủ chốt, tức Chúa Giêsu Kitô. Không nên vô ích phân tán chúng thành quá nhiều những điều phụ thuộc hay phù phiếm, mà phải tập trung vào thực tại nền tảng, là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, với lòng thương xót của Người, với tình yêu của Người, và yêu thương anh chị em như Người đã yêu. Một phương án được sinh động hóa bởi óc sáng tạo và óc tưởng tượng của Chúa Thánh Thần, Đấng cũng luôn thúc đẩy ta đi theo những con đường mới mẻ, một cách can đảm và không trở thành cứng ngắc! Ta nên tự hỏi: Nền mục vụ của giáo phận và giáo xứ ta hữu hiệu ra sao? Nó có biến được điều chủ chốt thành hữu hình không? Các kinh nghiệm, đặc điểm khác nhau có cùng sánh bước trong một hoà điệu do Chúa Thánh Thần ban tặng không? Hay nền mục vụ của ta tán loạn, rời rạc trong đó, kết cục, mỗi người mỗi đi theo đường lối riêng của mình? 

Trong ngữ cảnh này, tôi muốn nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc dạy giáo lý, như một điển hình của việc phúc âm hóa. Đức GH Phaolô VI đã nhấn mạnh như thế trong thông điệp Evangelii nuntiandi (xem số 44). Theo đó, phong trào giáo lý vĩ đại đã đẩy mạnh cuộc canh tân giúp vượt qua được sự tách biệt giữa Phúc Âm và nền văn hóa cũng như sự dốt nát của thời nay đối với các vấn đề thuộc đức tin. Tôi cũng nhiều lần nhắc tới sự kiện từng làm tôi ngỡ ngàng trong thừa tác vụ của mình: là gặp các trẻ em không biết làm cả dấu Thánh Giá! Quí giá thay việc phục vụ của các giáo lý viên đối với Tân Phúc Âm Hóa, và điều quan trọng là các phụ huynh phải là các giáo lý viên đầu hết, là các nhà giáo dục đức tin trước tiên trong chính gia đình họ bằng cả chứng tá lẫn lời nói của mình.

Các bạn thân mến, xin cám ơn các bạn vì cuộc thăm viếng này. Công việc của các bạn thật tốt đẹp! Xin Chúa chúc lành cho các bạn và xin Đức Mẹ che chở các bạn.

10/15/2013
Vũ Văn An

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM THƯ CHUNG GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA


HỘI THÁNH Công Giáo TẠI VIỆT NAM
VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC-ÂM-HÓA
Anh chị em thân mến,

“Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em” (x. 2Cr 13,13). Chúng tôi, các giám mục từ 26 giáo phận Việt Nam, quy tụ tại Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn để tham dự Đại hội lần thứ XII của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, xin cảm ơn anh chị em đã cầu nguyện nhiều cho chúng tôi để Đại hội diễn ra cách tốt đẹp và bình an. Nay Đại hội đã kết thúc, qua Thư Chung này, chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em những công việc đã làm trong Đại hội, cách riêng về sứ vụ Tân Phúc-Âm-hoá.

1. Bước vào Đại hội trong khung cảnh Năm Đức Tin, chúng tôi vui mừng được nghe biết về những hoa trái thiêng liêng nơi các tín hữu cũng như các cộng đoàn giáo xứ, giáo phận, dòng tu, đã tích cực học hỏi và nỗ lực canh tân đời sống đức tin. Các cuộc cử hành phụng vụ và sinh hoạt mục vụ đã giúp cho đức tin của mỗi người được thanh luyện, củng cố và đổi mới. Đồng thời, khi nghe biết về những khó khăn và thử thách mà một số cộng đoàn phải đối diện, chúng tôi hiểu rằng sống đức tin luôn luôn là một thách đố, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, người môn đệ Chúa Giêsu vẫn được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng yêu thương của Chúa, trở thành chất xúc tác cho việc xây dựng nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống.

Ngoài ra, chúng tôi cũng lắng nghe và góp ý cho nhau về nhiều sinh hoạt và công việc của Hội Thánh tại Việt Nam, cách riêng là công trình xây dựng Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang. Đại hội cũng dành nhiều thời giờ cho việc bầu chọn Ban Thường vụ của Hội Đồng Giám Mục cũng như các chủ tịch của các Ủy ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục trong nhiệm kỳ mới.

2. Giờ đây chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em về định hướng và chương trình mục vụ trong những năm tới. Trong ba năm qua (2010-2013), tất cả chúng ta đã cùng nhau học hỏi và sống ý nghĩa Giáo Hội: mầu nhiệm – hiệp thông – sứ vụ. Định hướng đó và tinh thần của Năm Đức Tin cần được tiếp nối bằng nỗ lực “Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”, cũng là chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII, diễn ra tại Rôma, từ ngày 7 – 28 tháng 10 năm 2012. Thật vậy, ánh sáng Đức Kitô chiếu tỏa trên khuôn mặt các Kitô hữu và ánh sáng ấy phải lan đến những người khác, giống như từ ngọn nến phục sinh, vô vàn những ngọn nến khác được thắp lên trong Đêm Vọng Phục Sinh.[1] Ngoài ra, chúng ta còn được nhắc nhở cách riêng về sứ mệnh đó trong năm nay, khi Hội Thánh tại Việt Nam kỷ niệm 25 năm tuyên phong 117 chứng nhân đức tin (19.06.1988 – 19.06.2013), là những hoa trái thánh thiện của công cuộc Phúc-Âm-hóa.

3. Mục tiêu của Phúc-Âm-hóa là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, trong Thánh Thần, nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống mình được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm. Như thế, trước hết chính bản thân chúng ta phải được Phúc-Âm-hóa, phải củng cố và làm mới lại đức tin của mình, rồi mới có thể giúp những anh chị em đã xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin. Ngày nay, khi một số người chỉ còn là Kitô hữu trên danh nghĩa, chúng ta hãy sống cho đúng với ơn gọi Kitô hữu của mình trong niềm vui, hãy chiếu tỏa sức hấp dẫn của Tin Mừng cho những người chung quanh. 

Phúc-Âm-hóa là sứ vụ mang tính toàn diện, vì “ánh sáng đức tin không chỉ soi chiếu đời sống nội bộ của Hội Thánh hoặc chỉ để xây dựng thành đô vĩnh cửu trong thế giới mai sau, mà còn giúp chúng ta xây dựng xã hội hiện nay nhằm hướng tới một tương lai hi vọng”.[2] Chính Chúa Giêsu dạy chúng ta hướng đi này. Người đứng về phía những nạn nhân của các thảm họa và bất công. Người liên đới với những ai bị xã hội loại bỏ. Liên đới và xót thương những nạn nhân và những người bị gạt ra bên lề xã hội phải trở thành đòi hỏi thiết yếu trong sứ vụ Phúc-Âm-hóa.[3]

4. “Tân Phúc-Âm-hóa” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8), nhưng là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”.[4] Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.

Công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đòi duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi bình diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.

Chương trình canh tân đời sống đức tin cần được lồng vào trong tổng thể của kế hoạch mục vụ mà Hội Đồng Giám Mục trình bày trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”. Thư Chung ấy là chương trình hành động của Hội Thánh tại Việt Nam trong nhiều năm. Dựa trên định hướng căn bản này, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy cùng với chúng tôi thực hiện kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014-2016):

– Năm 2014: Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình;
– Năm 2015: Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn;
– Năm 2016: Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội.

5. Trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hãy cùng nhau Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình và thúc đẩy gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng. Hội Thánh được gọi là gia đình của Thiên Chúa và mỗi gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đình, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đình. Cách cụ thể, mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã loan báo triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại lệ vào tháng 10 năm 2014 về “Những thách đố mục vụ đối với gia đình trong bối cảnh Phúc-Âm-hoá”. Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 cũng nhấn mạnh: “Trước cuộc khủng hoảng gia đình hiện nay, Hội Thánh nhận thấy cần phải tăng cường và canh tân mục vụ gia đình, phải xem mục vụ gia đình là hoạt động quan trọng, nối kết những kế hoạch và chương trình mục vụ của giáo xứ cũng như giáo phận”.[5]

6. Để thực hiện những mục tiêu trên, xin anh chị em hãy xây dựng gia đình mình thành một cộng đoàn cầu nguyện, sống tình yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin Mừng.

– Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa, đền thờ tại gia. Hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa trái vừa là đòi hỏi của sự hiệp thông bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và Hôn Phối. Chúa Giêsu hiện diện trong gia đình khi vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng cầu nguyện, và khi đó, chính cuộc sống gia đình trở thành lời kinh sống động. Hoàn cảnh sống hiện nay gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc gia đình cùng sum họp cầu nguyện. Tuy nhiên đây là đòi hỏi quan trọng trong đời sống gia đình Công Giáo. Vì thế, cùng với việc siêng năng tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận các bí tích, chúng tôi tha thiết xin anh chị em duy trì giờ kinh chung trong gia đình, và cố gắng đưa Lời Chúa vào giờ kinh này.

 Gia đình là cộng đoàn yêu thương bằng tình yêu hợp nhất thủy chung, xuất phát từ Thiên Chúa Tình Yêu. Mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau, phải là dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa. Vì thế, các gia đình Công Giáo phải loại bỏ mọi thứ bạo hành, “hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).

– Gia đình là cộng đoàn phục vụ sự sống, được khơi nguồn từ chính Thiên Chúa Hằng Sống. Vợ chồng Kitô hữu yêu thương nhau bằng một tình yêu mở ra với sự sống, tôn trọng sự sống ngay từ lúc thụ thai, cộng tác với Thiên Chúa Tạo Hóa qua việc sinh con có trách nhiệm, giáo dục con cái nên người tốt và nên con cái Chúa. Gia đình phải là ngôi trường đầu tiên dạy các đức tính nhân bản và đức tin, là thành trì bảo vệ sự sống thể lý cũng như tinh thần của con cái trước sự tấn công của cái ác và cái xấu trong cuộc sống. Vì thế, các bậc cha mẹ phải ý thức trách nhiệm của mình là những nhà giáo dục đầu tiên và không thể thay thế, bằng chính gương sáng của mình.

– Gia đình là cộng đoàn tham gia vào sứ vụ Phúc-âm-hóa, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng hành động cụ thể. Chính đời sống yêu thương hiệp nhất trong gia đình Công Giáo, ngay giữa những khó khăn và thử thách của cuộc đời, tự nó đã là lời chứng âm thầm nhưng có sức thuyết phục của Tin Mừng. Ngoài ra, theo truyền thống tốt đẹp, gia đình Công Giáo còn là nơi vun trồng ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đồng thời, khi có thể, xin anh chị em hãy mạnh dạn chia sẻ và giới thiệu Đức Kitô cho người khác.

7. Để đồng hành với các gia đình trong sứ mệnh cao cả nói trên, chúng tôi đề nghị một số việc mục vụ sau:

Việc chuẩn bị cho giới trẻ bước vào đời sống hôn nhân và gia đình là đòi hỏi khẩn thiết hơn bao giờ hết. Các bạn trẻ cần ý thức và sống đời hôn nhân như một ơn gọi và sứ mệnh cao quý, được chọn lựa với ý thức, tự do và trách nhiệm. Đôi bạn Kitô hữu còn được mời gọi sống bí tích Hôn Phối như dấu chỉ hữu hình và hữu hiệu của tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, một tình yêu phong nhiêu, duy nhất và bất khả phân ly. Để được như thế, cần có sự chuẩn bị xa, chuẩn bị gần, và chuẩn bị trực tiếp cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân. 

Trong bối cảnh có nhiều biến động về văn hóa-xã hội ngày nay, chúng tôi thiết nghĩ cần phải nhắc lại chân lý này: định chế gia đình đặt nền tảng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Định chế này dựa trên bản tính con người, do chính Thiên Chúa thiết lập, hướng đến thiện ích của chính gia đình và xã hội; vì thế, mọi cá nhân và tập thể xã hội cần nhìn nhận và tôn trọng định chế này.

Đồng hành với các gia đình trẻ ngày nay là yêu cầu mục vụ quan trọng, để giúp họ sống tình yêu vợ chồng với tinh thần trách nhiệm, phục vụ sự sống, biết hòa hợp tình thương trong tổ ấm gia đình với trách nhiệm xây dựng Hội Thánh, xã hội và đất nước.

Với những anh chị em đang gặp khó khăn vì hôn nhân đổ vỡ và gia đình ly tán, một đàng chúng ta vẫn phải nêu cao lý tưởng đời sống hôn nhân Công Giáo, đàng khác phải đồng hành và nâng đỡ họ, thay vì bày tỏ thái độ lên án và loại trừ.

Hiện nay, có nhiều nhóm, hiệp hội, phong trào tu đức và tông đồ đang dấn thân chăm lo mục vụ gia đình theo những cách thế và mức độ khác nhau. Những phong trào này cần được các mục tử đồng hành và hướng dẫn, nâng đỡ và khích lệ, để họ góp phần cách cụ thể và hài hòa với chương trình mục vụ chung trong mỗi giáo xứ, giáo phận.

Các giáo phận nên quan tâm đến việc đào tạo giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân chuyên trách mục vụ gia đình. Những người này sẽ cộng tác với các giám mục giáo phận trong việc xây dựng và triển khai những chương trình mục vụ gia đình trong giáo phận cũng như giáo xứ. Chúng tôi cũng muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến anh chị em văn nghệ sĩ và giới truyền thông Công Giáo. Ước mong anh chị em vận dụng tài năng Thiên Chúa ban, để tôn vinh vẻ đẹp đích thực của tình yêu hôn nhân và gia đình. Các linh mục tương lai cũng cần được chuẩn bị chu đáo hơn về mục vụ gia đình, để có thể đồng hành với các gia đình cách hữu hiệu.

Anh chị em thân mến,

Trên đây, chúng tôi đã chia sẻ với anh chị em những thao thức mục vụ cũng như những đề nghị cụ thể, nhằm góp phần vào nỗ lực “Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”. Ước mong những đề nghị này được anh chị em - cách riêng, các linh mục là những cộng tác viên gần gũi của hàng giám mục - đón nhận để cầu nguyện, suy nghĩ, khai triển và thực hiện ở nhiều cấp độ: gia đình, giáo xứ, giáo phận. Hướng về Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những tấm gương sáng ngời trong sứ mệnh Phúc-Âm-hóa, chúng ta hãy thân thưa với các ngài: 

Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, là con thảo của Cha trên trời, là chứng nhân anh dũng của Đức Kitô, là thành phần trung kiên của Hội Thánh, xin giúp chúng con biết trân trọng di sản đức tin mà các ngài đã truyền lại cho chúng con bằng máu và nước mắt. Xin cho chúng con mạnh dạn sống đức tin trong gia đình cũng như xã hội, theo tấm gương xán lạn của Thánh Gia Thất, để chiếu tỏa ánh sáng đức tin khắp nơi nơi; nhờ đó chúng con có thể tích cực góp phần thi hành sứ mệnh truyền giáo, đem lại hoa quả dồi dào trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Làm tại Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn, ngày 10 tháng 10 năm 2013

+ Cosma Hoàng Văn Đạt + Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
(đã ký) (đã ký)
Giám mục Bắc Ninh Tổng giám mục Hà Nội
Tổng thư ký HĐGM.VN Chủ tịch HĐGM.VN

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
[1] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Lumen fidei, số 37.
[2] Nt., số 51.
[3] Sứ điệp FABC X.
[4] Đức Chân phước Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội XIX của CELAM, Port-au-Prince.
[5] HĐGMVN, Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 43.
Hội đồng Giám mục Việt Nam


(Nguồn: Web HĐGMVN)

Đức Thánh Cha Phanxicô tại Assisi: “Hãy cởi bỏ tinh thần thế tục”

WHĐ (05.10.2013) – Trong chuyến hành hương đầu tiên đến sinh quán của Thánh Phanxicô vào đúng ngày lễ kính vị thánh nghèo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi toàn thể Giáo hội bắt chước Thánh Phanxicô Assisi, ôm lấy nghèo khó và cởi bỏ “tinh thần thế tục”.
Rời Vatican lúc 7g sáng bằng máy bay trực thăng, Đức Thánh Cha đã đến sân vận động của Trung tâm phục hồi chức năng tại Assisi lúc 7g45. Đây là chặng đầu tiên của mười hai chặng dừng chân trong chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha tại Assisi.
Gặp gỡ các trẻ em khuyết tật và những người trẻ cùng với những người chăm sóc tại Trung tâm phục hồi chức năng này do Giáohội điều hành, Đức Thánh Cha đã dành khoảng 45 phút trước bài nói chuyện để thăm hỏi các bệnh nhân trẻ, nhiều người trong số họ phải ngồi xe lăn. Trong suốt thời gian ngài viếng thăm, căn phòng vang lên những tiếng khóc than và rên rỉ.
Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta đang ở giữa những vết thương của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu ẩn mình nơi những trẻ em này, nơinhững người này. Trên bàn thờ chúng ta thờ lạy Thân mình Chúa Giêsu, trong những người này chúng ta gặp thấy những vết thương của Chúa Giêsu.
Đức Thánh Cha nói rằng Thân mình Chúa Giêsu sau khi sống lại không có tì vết, chỉ trừ năm vết thương khi ngài chịu đóng đinh.
“Người muốn giữ lại chỉ những vết thương, và Người đã đem những vết thương ấy vào thiên đàng với Người. Chúng ta chăm sóc những vết thương của Chúa Giêsu ở đây, và ở trên trời, Người chỉ cho chúng ta thấy những vết thương của Người và nói với tất cả chúng ta: ‘Cha đang chờ các con’”.
Và Đức Thánh Cha kêu gọi nỗ lực để có thêm “những công trình của nền văn hóa đón tiếpnhững công trình được thúc đẩy bởi tình yêu Kitô sâu xa, yêu mến Chúa Kitô chịu đóng đinh, yêu mến Thân mình của Chúa Kitô.
Tiếp đó, sau khi viếng Đền thánh Damiano, lúc 9g30 Đức Thánh Cha gặp những người nghèo trong “căn phòng cởi bỏ y phục”, tại Toà giám mục Assisi - chính nơi này Thánh Phanxicô đã cởi bỏ bộ quần áo sang trọng của mình để nhận lấy cuộc sống nghèo khó.
Đức Thánh Cha nói: “Không thể vừa là Kitô hữu vừa mang tinh thần thế tục. Tinh thần ấy dẫn chúng ta đến sự hư ảo, ngạomạn, tự đắc. Và đó là một ngẫu tượng, chứ phải thuộc về Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha nói tiếp: “Đây là dịp tốt để mời gọi Giáo hội cởi bỏ chính mình, và lời mời gọi này không chỉ dành cho hàng giáo phẩm mà còn cho mọi thành phần trong Giáo hội, và cởi bỏ sự tự mãn tinh thần cũng như của cải vật chất.
Thật là buồn khi thấy một Kitô hữu có tinh thần thế tục, người ấy tưởng rằng mình đang vui hưởng sự bảo đảm của cả đức tin và thế gian. Người ta không thể có cả hai.
Cùng đi với Đức Thánh Cha đến Assisi có Hội đồng Hồng y gồm 8 vị đã được ngài bổ nhiệm để tư vấn cho ngài về việc caiquản Giáo hội hoàn vũ và cải cách bộ máy hành chính của Tòa thánh. Hội đồng này vừa kết thúc khoá họp đầu tiên kéo dài ba ngày với Đức Thánh Cha tại Vatican.
Nhiều người trong anh chị em đã bị thế giới thô bạo này bóc lột… thế giới ấy không cung cấp việc làm và trợ giúpnhững trẻ em chết vì đói chẳng tác động gì đến thế giới ấy”.
Đức Thánh Cha nói ngài rất đau buồn về những người nhập cư châu Phi thiệt mạng trong vụ chìm tàu ngày hôm trước, khi chiếctàu của họ bị đắm gần đảo Lampedusa thuộc phía nam Địa Trung Hải, nơi mà Đức Thánh Cha đã thực hiện chuyến viếng thăm mục vụ hồi tháng Bảy vừa qua.
“Đối với thế giới, chẳng có gì quan trọng khi người ta phải chạy trốn khỏi cảnh nô lệ và nạn đói để đi tìm tự do. Thật là đau đớnkhi chúng ta thường xuyên nhìn thấy họ đi đến cái chết. Đây là một ngày tang thương. Tinh thần thế tục đã gây ra những điều này.
Bài nói chuyện của Đức Thánh Cha với những người nghèo tại Toà giám mục Assissi là một trong sáu bài nói chuyện trong chuyến viếng thăm mục vụ trọn một ngày của ngài tại Assisi. Như vẫn thường làm, Đức Thánh Cha đã để qua một bên bài phát biểu dọn sẵn và hoàn toàn nói buông. Đây là những người nghèo nhận sự trợ giúp của các tổ chức bác ái Công giáo địa phương, họ được mời dùng bữa trưa với Đức Thánh Cha.
Cao điểm trong chương trình buổi sáng của Đức Thánh Cha là Thánh lễ cử hành tại quảng trường bên ngoài Vương cung thánhđường Thánh Phanxicô.
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói đến những quan niệm sai lầm phổ biến về thánh Phanxicô và di sản của thánh nhân.
Nhiều người, khi nghĩ đến Thánh Phanxicô, thường nghĩ đến hòa bình, nhưng rất ít người nghĩ sâu xa hơn. Hòa bình mà Thánh Phanxicô đã có, đã cảm nghiệm và đã sống là gìhoà bình mà thánh nhân đ lại cho chúng ta là gì Đó là sự bình an của Chúa Kitô, phát sinh từ tình yêu vĩ đại nhất, tình yêu của thập giá.
Và Đức Thánh Cha nói thêm: “Hòa bình của Thánh Phanxicô không phải là điều gì đó ngọt ngào. Không. Đó không phải là hoà bình thật sự của Thánh Phanxicô. Cũng không phải là một thứ hòa hợp với các lực lượng của vũ trụ mang màu sắc phiếm thần:đó không phải là hoà bình của Phanxicô, mà là một ý niệm do người ta nghĩ ra”.
Ca ngợi tình yêu thánh Phanxicô đối với mọi loài thụ tạo, Đức Thánh Cha nói rằng thánh nhân làm chứng rằng con người đượckêu gọi bảo vệ con người, mà con người là trung tâm của tạo thành, nơi Thiên Chúa Sáng tạo muốn đặt con người vào đó”.
Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã tôn vinh vị Thánh mà ngài chọn làm tông hiệu là “con người của sự hòa hợp và bình an” vàmời gọi quan tâm đến những người đang đau khổ và thiệt mạng vì bạo lực, khủng bố, chiến tranh, ở Thánh Địa –vùng đất màThánh Phanxicô rất yêu quý–, ở Syria, trên khắp Trung Đông và ở khắp mọi nơi trên thế giới.
Đức Thánh Cha cũng đến viếng thăm nhiều nơi khác tại Assisi có liên quan đến Thánh Phanxicô, như mộ của thánh nhân tạiVương cung thánh đường Thánh Phanxicô; nhà thờ San Damiano, nơi thánh nhân được thị kiến Chúa Giêsu; tu viện nơi thánh nhân ẩn mình đ cầu nguyện; ngôi nhà thờ nhỏ Porziuncola, hiện nay nằm trong Vương cung thánh đường Nữ vương các Thiên thần, nơi thánh nhân thành lập dòng Phanxicô; mộ Thánh Clara là bạn của thánh nhân; và Vương cung thánh đường nơi Thánh Phanxicô và Thánh Clara được rửa tội.
Buổi chiều, lúc 15g15, Đức Thánh Cha gặp gỡ hàng giáo sĩ giáo phận, các tu sĩ và giáo dân tại Nhà thờ chính toà. Nhìn thấy Đức Thánh Cha như một cha xứ bình dân, cộng đoàn được thu hút vì phong cách ấy và thường xuyên vang lên những tiếng cười vui và vỗ tay.
Đức Thánh Cha nói: “Hãy thôi những bài giảng lê thê, nhàm chán, khó hiểu đi”và ngàkhuyên nên giảng ngắn, dựa trên ba từchủ chốt.
Khuyến khích các mục tử gần gũi với đoàn chiên, Đức Thánh Cha kể rằng có một cha xứ nói với ngài rằng cha biết tên của tất cả các gia đình - và cả những con chó - trong giáo xứ của chaVà ngài khen ngợi: “Thế thì còn gì đẹp bằng!”
Về các gia đình trẻ, Đức Thánh Cha nói, “Tôi luôn khuyên các đôi vợ chồng mới cưới:  Cứ cãi nhau thoải mái. Nếu đĩa bay, cứ cho nó bay. Nhưng đừng bao giờ để đến hết ngày mà không làm làm hòa với nhauđừng bao giờ!”
Sau đó, lúc 16g15 Đức Thánh Cha đã gặp các nữ đan sĩ tại Vương cung thánh đường Thánh Clara. Ngài bày tỏ cảm thông với những thách đố của đời sống cộng đoàn và khuyến khích các chị em cố gắng sống hòa hợp.
Ma quỷ tận dụng mọi cơ hội để chia rẽHãy nuôi dưỡng tình bằng hữu trong chị em, cuộc sống gia đình, tình yêu, để tu viện của chị em không phải là một luyện ngục nhưng là một gia đình.
Lúc 17g45 Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ những người trẻ của vùng Umbria tại quảng trường trước Vương cung thánhđường Nữ vương các Thiên thần. Hàng ngàn người trẻ đã chờ sẵn để được gặp Đức Thánh Cha. Khắp nơi vang lên tiếng hát của các bạn trẻ, đặc biệt những bài hát của Ngày Giới trẻ Thế giới. Trong gần một giờ, Đức Thánh Cha đã trả lời một số câu hỏi của các bạn trẻ.
Cuối cùng, trước khi rời Assisi, Đức Thánh Cha đã đến viếng Đền Thánh Rivotorto và căn lều Tugurio của Thánh Phanxicô.
Lúc 19g15, Đức Thánh Cha lên máy bay trực thăng tại sân vận động Rivotorto và trở về Vatican lúc 20g.
(Tổng hợp)

Minh Đức

Trẻ nói dối vì bị áp lực của những “căn bệnh” giáo dục

(Dân trí)-“Giáo dục hiện nay cũng gặp phải nhiều “bệnh” cần chữa như: bệnh thành tích, ngồi nhằm lớp... Những đều này làm cho trẻ thấy áp lực và việc nói dối, quay cóp thi cử… là một trong những biện pháp giúp trẻ vượt qua những áp lực nặng nề và xuất phát từ nhiều phía đó”.
 >>  “Học sinh hư, đáp án là bố mẹ”

PGS. TS Tâm lý Huỳnh Văn Sơn - phó Chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội Việt Nam, Trưởng bộ môn Tâm lý học (Trường ĐH Sư phạm TPHCM) đã chia sẻ như vậy với PV Dân trí khi bàn về tình trạng đạo đức học đường xuống cấp hiện nay và nhất là việc học sinh nói dối tăng theo cấp học.  
Trẻ nói dối vì bị áp lực của những “căn bệnh” giáo dục
PGS. TS Tâm lý Huỳnh Văn Sơn - phó Chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội Việt Nam, Trưởng bộ môn Tâm lý học (Trường ĐH Sư phạm TPHCM).
Theo kết quả của một cuộc điều tra xã hội học cho thấy, tỉ lệ nối dối cha mẹ ở học sinh cấp 1 là 22%, cấp 2 là 50%, cấp 3 là 64% và sinh viên là 80%. Người xưa thường nói “Nhân chi sơ, tính bổn thiện”, nhưng từ kết quả này cho thấy ngay từ nhỏ trẻ đã nói dối? Ông có đánh giá gì?
Không riêng trong môi trường học đường mà thiết nghĩ trong các môi trường khác kết quả cũng sẽ có sự tương đồng. "Nhân chi sơ, tính bổn thiện" ý nói: con người ta sinh ra vốn dĩ là thiện. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng ngay từ khi sinh ra con người đã chịu tác động của rất nhiều yếu tố như môi trường sống, sự giáo dục của gia đình... Chính do những yếu tố này mà cái thiện ấy vẫn còn duy trì, hoặc dần mất đi.
Trong triết học Phật giáo, có đề cập đến quan điểm về ngũ giới, đó là: bất sát, bất tà đạo, bất tà dâm, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu. Trong đó, bất vọng ngữ, nghĩa là không được nói dối. Ngay bản thân người tu đạo còn khó giữ được giới này, huống chi là người thường.
Nói dối có nhiều loại, chúng khác nhau ở nguồn gốc, mục đích và động cơ dẫn đến việc nói dối. Nói dối người bệnh để tinh thần họ không chán nản, nói dối cha mẹ để cha mẹ khỏi lo lắng... Tích cực có, tiêu cực có, tuy nhiên, tất cả những hành động phản ánh không đúng thực tế đều gọi là nói dối. Lúc nhỏ, các mối quan hệ ít hơn, vấn đề cần suy nghĩ và giải quyết cũng ít hơn, cho nên động cơ và mục đích nói dối cũng ít, dẫn đến hành vi nói dối ít. Dần lớn lên, các mối quan hệ xã hội tăng lên, và theo cách suy luận như trên, thì hành vi nói dối cũng tăng theo.
Tỉ lệ trên cùng với các hiện tượng gian lận thi cử… khiến nhiều người đặt câu hỏi rằng phải chăng đạo đức học đường đang xuống cấp trầm trọng?
Có hay không việc đạo đức học đường đang xuống cấp trầm trọng, đó là một vấn đề đang rất được quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Đạo đức học đường không chỉ thể hiện ở hành vi nói dối, mà nó thể hiện qua nhiều hành vi, thái độ khác nữa.
Một mặt, cần lưu ý đến sự xuống cấp của đạo đức, bởi thực tế, nó cũng đang có dấu hiệu xuống cấp, một phần do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, do sự phát triển rầm rộ của công nghệ, giới trẻ tiếp xúc với rất nhiều thông tin mới, lối sống mới, tích cực, tiêu cực đều có cả. Vấn đề là sự chọn lọc tiếp thu. Mặt khác, cần xét đến mặt tích cực của việc nói dối trong một số trường hợp cụ thể.
Chuyện gian dối trong học đường phải chăng cũng là phản ánh hiện trạng chung của xã hội, việc nói dối đã trở thành thói quen hiện nay?
Giống như nhiều hành vi khác, con người ta thường có tư tưởng: đã làm một lần, thì làm thêm lần nữa cũng chả sao. Dần dần, đối với một bộ phận giới trẻ, nói dối trở thành một hành vi mất kiểm soát. Gặp chuyện nan giải, cần thiết phải nói dối cũng nói. Không gặp chuyện nan giải gì, cũng nói dối.
Giáo dục hiện nay cũng gặp phải nhiều “bệnh” cần chữa như: bệnh thành tích, ngồi nhằm lớp...vChính những đều này làm cho trẻ cảm thấy áp lực và nói dối, quay cóp trong thi cử... là một trong những biện pháp giúp trẻ vượt qua những áp lực nặng nề và xuất phát từ nhiều phía đó.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia thì những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tâm lý và có phần hư hỏng của học sinh hiện nay là do sự thay đổi nhanh chóng của môi trường, điều kiện sống của các em ngày càng đầy đủ hơn. Vì sao có sự đi ngược như vậy, thưa ông?
Cuốn theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự nâng cao giá trị đời sống vật chất và tinh thần, còn có những hệ lụy đi kèm. Đời sống muốn phát triển, tức con người phải bỏ thời gian chăm lo cho đời sống vật chất, từ đó, thời gian dành cho đời sống tinh thần ngày càng trở nên thiếu thốn. Những lề lối của nếp sống khi xưa dần phai nhạt và trở nên cũ kỹ, ít ai quan tâm đến, dù những lề lối ấy có trở nên lạc hậu hay không.
Theo ông, làm sao để cải thiện hiện trạng này? Làm sao thay đổi được việc các gia đình chỉ muốn con học giỏi mà dường như quên “dạy con nên người”?
Cải thiện tình trạng này đòi hỏi một bước chuyển biến trong nền giáo dục. Một khi con người ta không còn phải lo toan nhiều cho đời sống vật chất, thì đời sống tinh thần sẽ được chăm lo nhiều hơn.
Tuy nhiên, cần có sự phối hợp  mang tính chủ động giữa nhà trường và xã hội trong việc tác động vào nhận thức của các bậc làm cha mẹ, để học thấy được tầm quan trọng của việc “dạy con nên người”. Người gần gũi nhất với trẻ nhất là cha mẹ, họ phải làm gương cho con của mình, đừng dạy trẻ bằng lời nói mà hãy dạy chúng bằng hành động. Cha mẹ phải nêu gương về tính chân thật, sống thật thà để con cái học tập và noi theo, đừng nói dối con của mình thì cũng không nghe lời nói dối từ chúng.
Giáo dục không nên chỉ chú trọng vào giáo dục trí tuệ mà phải đề cao tất cả các mặt khác, đặc biệt là giáo dục đạo đức để trẻ có thể phát triển toàn diện bản thân mình. Chúng ta đang xây dựng “Xã hội hóa học tập”, điều này đồng nghĩa với việc trẻ sống, sinh hoạt trong nhà trường, gần gũi với bạn bè và thầy cô giáo ngày càng nhiều hơn. Có một thực tế đáng lưu tâm, hiện nay hầu hết tất cả các trường học không có dạy tâm lý lứa tuổi và dạy cách hình thành nhân cách sống cho trẻ em. Một bộ phận đội ngũ giáo viên có kĩ năng sống chưa đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra, về số lượng và quan trọng là về chất lượng. Có những giáo viên kĩ năng sống không được đào tạo bài bản tại các trường đại học, không nắm vững tâm sinh lý người học. Chính vì vậy mà để giáo dục được các em học sinh cần phải có thời gian và chiến lược từ Bộ GD-ĐT.
Xin  trân trọng cảm ơn PGS.TS!
Lê Phương

Phân tích tóm tắt Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin của Đức Phanxicô


Thông điệp, dù được viết bởi vị giáo hoàng có ngôn từ đơn giản và trực tiếp như Đức Phanxicô, vẫn không phải là dễ đọc. Để giúp bạn đọc, nhất là những bạn đọc lần đầu tiên đọc một thông điệp của giáo hoàng, chúng tôi xin phân tích tóm tắt các ý chính theo từng phần, từng chương và từng đoạn của cả thông điệp. Các số trong [] là số đoạn

Phần Nhập Đề [1-7]: Ngược với người duy tục cho rằng đức tin là mù quáng, liên kết với bóng tối [các số 2-3], Đức GH nhắc lại lời Chúa Giêsu khẳng định “Ai tin Ta sẽ không còn ở trong bóng tối nữa” vì Người là “ánh sáng bước vào trần gian” (Ga 12:46). Nên ai tin, sẽ thấy [số 1]. Vì đức tin là ánh sáng, một ánh sáng có khả năng chiếu rọi mọi khía cạnh của nhân sinh [số 4]. Nhiệm vụ của GH là củng cố đức tin của anh em mình. Nên Đức Bênêđíctô đã lập ra Năm Đức Tin [số 5] song song với năm kỷ niệm Vatican II, một công đồng của đức tin [số 6]. Và nay, Đức Phanxicô ban hành Lumen Fidei, từng được khởi đầu bởi vị tiền nhiệm [số 7). 

Chương Một [8-22]: Đường đi của Đức Tin

Đức GH vẽ lại đường đi của Đức Tin. Bắt đầu với Ápraham, cha ta trong đức tin: ông đã nghe, và đáp lại, nên đức tin của ông là đức tin bản vị, là lời đáp trả đối với một lời đích thân nói với ông [số 8]. Lời nói với ông này vừa kêu gọi (lià bỏ quê hương) vừa hứa hẹn (1 dân vĩ đại) [số 9]. Ápraham tín thác vào lời này vì Thiên Chúa là Đấng tín trung [số 10].Vả lại, Đấng kêu gọi ông còn là Thiên Chúa sự sống, nguồn gốc mọi sự [số 11].

Sau đó, TĐ nói tới đức tin của Israel: dân này được mời gọi lên đường thờ phượng Chúa tại Sinai và thừa hưởng đất hứa [số 12]; nhưng họ đã rơi vào ngẫu thần. Với ngẫu thần là tan tác. Với đức tin là thống nhất đời sống [số 13]. Người môi giới giữa TC và Israel là Môsê. Đức tin cá nhân tìm được chỗ đứng trong cộng đồng, trong gặp gỡ người khác [số 14]. 

Nhưng đức tin chỉ viên mãn với Chúa Giêsu, Đấng là tâm điểm mà mọi con đường trên đều hướng về. Kitô Giáo tuyên xưng Người là Chúa, là Con Thiên Chúa làm người, sống lại từ cõi chết. Đức tin này là đức tin hoàn hảo. Tại sao? Vì a) Chúa Giêsu là căn cứ để TC can thiệp dứt khoát, là biểu hiệu tối cao cho tình yêu của Người, lời TC nói với ta trong Chúa Giêsu là lời trường cửu; b) tin vào một tình yêu có khả năng biến đổi thế giới và biến đổi diễn biến lịch sử của nó [số 15]. Chúa Giêsu đáng tin vì a) đã chết cho ta [số 16] và đã sống lại [số 17]. Nhưng Người không những là Đấng ta tin mà còn là Đấng ta kết hợp với, để cùng nhìn cái nhìn của Người, để chào đón Người vào đời ta [số 18].

Đến đây, TĐ nhắc tới câu bất hủ của Thánh Phaolô: Cứu rỗi nhờ đức tin chứ không nhờ việc làm của ta (thư Ep. 2:8). Nghĩa là gì? Mọi sự thiện đều do TC ban cho, kể cả sự cứu rỗi; tin là mở lòng nhìn nhận quyền tối thượng của hồng ân TC [số 19]. Nhờ thế, tình yêu Chúa Kitô sẽ vào trong ta, biến đổi ta từ bên trong, khiến ta biết nhìn bằng con mắt Chúa Kitô, chia sẻ tâm trí Người, chia sẻ thiên hướng con thảo của Người [số 20-21].

Nhưng đức tin vào Chúa Kitô này luôn có tính Giáo Hội: tin không phải là việc riêng tư, nó phát sinh từ việc nghe, một việc nghe nhằm được phát biểu thành lời và được tuyên xưng; tuyên xưng trong Giáo Hội [số 22].

Chương Hai [23-36]: Có tin mới hiểu

A. Đức tin và sự thật [23-31] : TĐ nhắc lại câu bất hủ của Isaia 7:9: “Có tin mới hiểu”. Tuy nhiên đây là theo Bản Hy Lạp (Bản Bẩy Mươi), chứ bản Hípri viết khác: “có tin mới đứng vững” [số 23]. TĐ nhận cả hai khía cạnh này của đức tin: hiểu biết sự thật mới đứng vững [số 24]. Tuy nhiên, thời nay chỉ chuộng sự thật kỹ thuật và sự thật chủ quan của cá nhân. Họ hoài nghi chân lý phổ quát, coi nó đồng nghĩa với độc tài áp chế. Hậu quả: duy tương đối, bác bỏ mối liên kết giữa tôn giáo và chân lý, quên cả nguồn gốc mọi hiện hữu [số 25]. 

Trong khi đó, cái biết của đức tin là cái biết của trái tim (Rm 10:10), một cái biết giữ cho mọi chiều kích kết hợp với nhau, vì các chiều kích như thân xác và tinh thần, trí hiểu, ý chí và cảm xúc đều hội tụ nơi trái tim. Cái biết này phát khởi khi ta nhận được tình yêu bao la của Thiên Chúa [số 26]. 

Tình yêu không phải là xúc cảm phù du. Mà là xúc cảm dẫn ta ra khỏi ta để hướng về một người khác, để xây dựng 1 liên hệ bản thân lâu dài. Nó là đường hướng tương quan trong cách nhìn thế giới, 1 cái nhìn qua mắt người khác và là cách nhìn chung về mọi sự vật hiện hữu. Tình yêu phải dựa trên sự thật mới bền vững. Mà sự thật cũng cần tình yêu mới khỏi lạnh lùng áp chế [số 27]. Tình yêu như thế là nguồn của hiểu biết. Điều này thấy rõ trong tình yêu của bất cứ người nam người nữ nào. Lịch sử Israel cũng chứng minh điều đó: nhờ biết rằng vì TC yêu họ nên mới chọn họ, Israel đã hiểu được tính thống nhất toàn diện trong kế hoạch TC đối với họ và đối với thế giới [số 28]. 

Giao ước với Israel cũng cho thấy: Đức tin gồm cả nghe lẫn nhìn: nghe lời TC luôn kèm theo ước muốn được thấy mặt Người. Nghe nhấn mạnh tới ơn gọi và đáp trả bản thân. Nhìn cho ta thấy cái toàn bộ của hành trình, định vị nó trong kế hoạch toàn diện của TC [số 29]. Tin Mừng Gioan làm nổi bật cả nghe lẫn nhìn của đức tin [số 30]. Và cả rờ mó nữa (1Ga 1:1) [số 31]

B. Đức tin và lý trí [32-34] . Nhờ đối thoại với triết lý Hy Lạp [số 32], Thánh Augustinô tìm ra mô thức ánh sáng: ánh sáng từ trên cao soi sáng mọi loài là TC; mọi loài đều có 1 độ sáng nào đó, phản chiếu được sự tốt lành của TC. Nhờ thế, lý trí ta có khả năng nhận ra sự ác và hướng về sự thiện. Thánh Augustinô cũng tổng hợp cả nhìn (ánh sáng) và nghe (cầm lấy mà đọc): “lời (nghe) sáng lên (nhìn) từ bên trong” [Số 33].

Áp dụng vào thời ta, đức tin có thể giải đáp các vấn nạn về chân lý. Nó không độc tài, vì xây trên tình yêu. Nó không xa lạ với thế giới vật chất, mà soi sáng cho nó, tin tưởng trật tự nội tại của nó, theo lời mời gọi của nó bước vào 1 con đường mỗi ngày một tốt hơn. Nó đem lợi ích cho khoa học: khuyến khích khoa học gia cởi mở với thực tại, tiếp tục tìm kiếm, luôn bỡ ngỡ trước mầu nhiệm thiên nhiên [số 34].

C. [35]. Đức tin và việc tìm kiếm Thiên Chúa: ai thành thực tìm kiếm TC đều có thể tìm thấy Người: a) trong kinh nghiệm sống hàng ngày; b) trong chu kỳ bốn mùa; c) trong sự mầu mỡ của trái đất; d) trong chuyển vần của vũ trụ; e) nhất là trong Chúa Kitô. Nhưng a) phải lên đường như Ba Vua; b) bắt đầu làm việc thiện cho người khác [số 35]. 

D. [36]. Đức Tin và thần học: Không có đức tin, không có thần học, vì thần học là tìm hiểu sâu xa việc TC từ từ tỏ mình Người ra. Nó không phải là suy diễn của ta mà là chấp nhận để hiểu sâu xa hơn lời TC tỏ với ta về chính Người. Ngoài ra, thần học phải phục vụ đức tin tín hữu và tôn trọng huấn quyền [số 36]. 

Chương Ba [37-49]: Phúc âm hóa: Chương này tập trung vào việc phúc âm hóa, trình bày chi tiết qua các tiểu mục sau

A. [37-39]: Giáo Hội, mẹ đức tin ta: Nhận được lời, không giữ cho riêng mình, phải chuyển giao [số 37]. Ta nhận được mọi sự nhờ người khác, trong đó có đức tin: ta khám phá ra tình yêu Chúa Kitô nhờ ký ức Giáo Hội. Chính Mẹ Giáo Hội duy trì ký ức về tình yêu ấy và dạy dỗ ta về nó [số 38]. Không ai tự mình tin. Nó luôn diễn ra trong hiệp thông GH. Điều này thấy rõ trong hình thức hỏi thưa của kinh tin kính trong Phép Rửa: đức tin là đáp trả một một lời mời [số 39]. 

B. [40-45]: Được thông truyền bằng các bí tích: Giáo Hội dùng các bí tích cử hành trong phụng vụ để thông truyền đức tin, vì bí tích vận dụng được cả tâm trí, ý chí và mọi xúc cảm ta; chúng thông truyền ký ức nhập thể, nối kết với mọi thời điểm và địa điểm đời ta, biến các thực tại hữu hình đời ta vượt quá chúng để hướng về mầu nhiệm trường cửu [số 40]. Nhờ Phép Rửa, ta có sự sống mới, thành tạo vật mới, trong hiệp thông mới là Giáo Hội [số 41]. 

TĐ sau đó nói tới các yếu tố trong Phép Rửa: a) kêu cầu thánh danh Ba Ngôi trên dự tòng, biến họ thành con thảo; b) dìm trong nước vừa chỉ chết cho mình vừa chỉ sống vào sự sống mới. Phép này vì thế cho ta thấy cấu trúc nhập thể của đức tin: nó vào sâu hữu thể ta và biến đổi hữu thể này, cho nó tham dự vào bản thể TC [số 42]. Còn Phép Rửa trẻ em thì nhấn mạnh tới chiều kích cộng đoàn của đức tin, vì các em không tự mình tuyên xưng đức tin được [số 43].

Tiếp nối, TĐ nói đến Phép Thánh Thể, biểu thức cao nhất của đức tin, vì ở đây, 2 chiều kích của Đức Tin gặp nhau: a) chiều lịch sử: hành vi tưởng niệm nhưng lại làm thành hiện tại một quá khứ có khả năng mở ra 1 tương lai, tiên báo một thành tựu tối hậu; b) chiều từ hữu hình bước vào vô hình: bánh rượu thành Mình Máu Chúa [số 44].

Trong cử hành BT, GH luôn tuyên xưng Đức Tin qua kinh tin kính: mọi chân lý của kinh chỉ về mầu nhiệm sự sống mới, hiểu như cuộc hành trình hiệp thông với TC hằng sống [số 45].

C. [46]: Thông truyền bằng cầu nguyện và Mười Giới Răn: Ngoài ra, GH còn dựa vào Kinh Lạy Cha và Mười Điều Răn để thông truyền đức tin: kinh Lạy Cha dạy ta biết nhìn mọi sự bằng con mắt Chúa Giêsu; Mười Giới Răn dạy ta ra khỏi cái tôi vị kỷ để bước vào cuộc đối thoại với TC và người khác (số 46].

D. [47-49]: Tính hợp nhất và nguyên tuyền của đức tin: Phải thông truyền đức tin cách trọn vẹn vì đức tin là một. Không là một, không phải là đức tin (Lêô Cả). Tại sao là một? a) TC là duy nhất; b) đức tin nào cũng hướng về TC duy nhất (ngộ đạo tin có 2 đức tin); c) được toàn thể GH chia sẻ [số 47]. Phải thông truyền nguyên vẹn, vì Đức Tin được ví như 1 cơ thể, hay 1 trinh nữ trung trinh với phu quân [số 48]. Chúa ban Tông Truyền để phục vụ tính hợp nhất và tính nguyên tuyền của Đức Tin. Huấn quyền đáng tin vì a) luôn vâng lời TC; b) tin tưởng lời ấy, duy trì và trình bày nó [số 49].

Chương Bốn: [50-60]: Đức tin trong thế giới: Chương này giải thích sự liên kết giữa đức tin và công ích, dẫn tới việc tạo ra môi trường để con người sống với người khác. 

A. [50-51]: Đức tin và thiện ích chung: Các tổ phụ vừa tin vừa xây dựng. Kinh thành con người vững chắc nhờ xây trên niềm tin vào TC tín trung. Đức tin cũng rọi sáng mọi liên hệ nhân bản nữa [số 50]. Đức tin đặc biệt phục vụ công lý, luật pháp và hòa bình [số 51]. 

B. [52-53]: Đức tin và gia đình: Khung cảnh đầu tiên để đức tin soi sáng cho xã hội con người là gia đình, xây dựng trên hôn nhân, hiểu như sự kết hợp 1 người nam và 1 người nữ trong yêu thương vĩnh viễn. Mà tình yêu chỉ vĩnh viễn khi ta nhận ra 1 kế hoạch lớn hơn ta; kế hoạch này nâng đỡ ta và giúp ta có khả năng trao phó trọn tương lai cho người yêu [số 52].

Đức tin đi theo mọi tuổi sống trong gia đình; vì thế, gia đình cần cùng nhau phát biểu đức tin; gần gũi và nâng đỡ đức tin con cái, giúp chúng biết biểu lộ niềm vui của Đức Tin, gặp gỡ Chúa Kitô, khám phá ra lời mời gọi yêu thương [số 53]. 

C. [54-55]: Cuộc sống xã hội cần ánh sáng đức tin: Đức tin cổ vũ tình huynh đệ. Huynh đệ bình đẳng? Đúng, nhưng 1 huynh đệ qui chiếu TC như cha chung tối hậu. Đức tin giúp ta hiểu phẩm giá độc đáo của mỗi người, khiến ta phải tôn trọng mọi sự sống [số 54].

Đức tin giúp ta tôn trọng thiên nhiên, phát triển hợp lý, tạo ra các hình thức cai trị biết phục vụ ích chung, khả thể tha thứ nhằm hợp nhất. Hệ luận: phải nhìn nhận TC cách công khai [số 55].

D. [56-57]: Đức tin và đau khổ: Trong đau khổ, ta công bố Tin Mừng cách thuyết phục hơn cả, vì khám phá ra: sức mạnh TC giúp ta chiến thắng mọi yếu đuối của ta. Đau khổ giúp ta lớn lên trong đức tin, phó thác hơn trong tay TC [số 56].

Đức tin không làm ta sao lãng đau khổ của thế giới. Nó giúp ta thấy Chúa nơi người đau khổ, như Thánh Phanxicô và Mẹ Têrêxa. TC không giải đáp mọi đau khổ nhưng đồng hành với người đau khổ. Đau khổ hướng ta về hy vọng: đời này tan đi, đời sau sẽ rực sáng [số 57].

E. [58-60]: Phúc cho người tin: Đức Mẹ=mẫu mực hoàn hảo của đức tin: nghe, trân giữ, suy niệm trong lòng... theo chân Chúa tận thánh giá [số 58]. Đức Mẹ cũng cho thấy: người tin được hoàn toàn thấm nhập vào điều họ tuyên xưng [số 59]. 

Và cuối cùng TĐ ngỏ lời xin Đức Mẹ phù giúp đức tin ta, để nghe, bước theo, tín thác, hân hoan, không thấy cô đơn, biết nhìn bằng con mắt Chúa Giêsu, luôn gia tăng đức tin [số 60]
Vũ Văn An8/16/2013