Đời tu và hạnh phúc


Là con người, từ cổ chí kim, từ Đông chí Tây..., đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần, ai ai cũng đều mong muốn mình được hạnh phúc hoặc sờ chạm thấy hạnh phúc dù chỉ một chút. Thánh Tôma Aquinô cũng đã nói: “Theo bản tính tự nhiên, tất cả mọi người đều khát mong hạnh phúc” . Chính vì thế, mà nhiều người chấp nhận đánh đổi rất nhiều để cầu mong được hạnh phúc. Ngày nay, cũng đã có nhiều người tìm ra cho mình những kỹ năng để nâng niu và nắm giữ được hạnh phúc lâu dài. 

Tuy nhiên, điều họ mong muốn và tìm kiếm đó có đúng không hay chỉ là một sự mơ tưởng hoặc bị hiểu sai về hạnh phúc? Vậy hạnh phúc đích thực là gì và ở đâu?

1. Hạnh phúc là gì và ở đâu? 

Thực sự câu trả lời rất khó để khẳng định đâu là hạnh phúc; ai là người được hạnh phúc, và dựa vào tiêu chuẩn nào để cho rằng mình hạnh phúc! Lại càng khó hơn khi mỗi người đều có một quan điểm hay một khái niệm để mặc định cho nó. Đôi khi dẫn đến tình trạng uốn nắn hạnh phúc theo chủ ý khách quan của mình.

Nhưng như đã nói, hạnh phúc được mỗi người hiểu một cách khác nhau, nên rất khó thống nhất. Các trường phái hay tôn giáo cũng có những quan niệm khác nhau khi bàn về hạnh phúc.

Trong từ điển tiếng Việt khi nói về hạnh phúc thì viết: “Có được nhiều sung sướng, toại nguyện” . Còn theo ngôn ngữ triết học thì: “Tình trạng sung sướng của con người khi khuynh hướng được hoàn toàn thỏa mãn, về lượng, về phẩm, về lâu dài theo đúng bậc thang (hay là trật tự) giá trị” . Hoặc theo Bách khoa Toàn thư thì: “Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí” .

Sự sung sướng, hay thỏa mãn có thể là cái gì đó nắm bắt được cách cụ thể như: tiền tài, danh lợi, sức khỏe, sắc đẹp, địa vị, uy thế, quyền lực, thành công, thỏa mãn ước muốn..., bởi vì người ta phỏng chiếu sự hạnh phúc dưới nhiều lăng kính chủ quan và có phần hiện sinh, nên đôi khi “thấy vậy mà không phải vậy”. Tôi theo góc độ và vị thế của tôi; anh theo chủ quan của anh. Mỗi người sẽ tùy thuộc vào quan điểm, hiểu biết và bậc sống của mình dựa trên nhu cầu về thể lý hay tâm linh để hình thành nên một quan niệm về hạnh phúc. 

Nhưng nếu chỉ có thế thì quan niệm của con người về hạnh phúc thật lệnh lạc vì nó không bám rễ sâu trong tâm hồn, nơi nội căn của con người. Hạnh phúc như thế, thì phải chăng không phải là hạnh phúc thật, bởi vì nó mang nặng tính chủ quan, phiến diện, nên con người cứ nhọc công tìm kiếm, và lòng tham vô đáy của con người biết đâu cho vừa, nên cứ phải đi tìm hoài, tìm mãi... Người đời thường có câu: “Con dao và cái nĩa không làm cho người ta ngon miệng” (De Sirvy). Còn trong nhà tu thì có ngạn ngữ: “Áo dòng không phải chân tu, hoa thơm nhân đức đời tu mới thành” hay: “chiếc áo không làm nên thầy tu”. 

Từ cái nhìn đó, mỗi người chúng ta hiểu được ngay rằng: những thứ bên ngoài thì không đem lại cho người ta hạnh phúc thật, còn những cái ở bên trong mới đem lại cho con người hạnh phúc. 

Như vậy, hạnh phúc là một cái gì đó cao quý, thiêng liêng, là vô hằng mà ai cũng mong muốn đạt được. Nó là một trạng thái nội tâm sâu xa được khởi đi từ nội căn chứ không phải thứ hạnh phúc bề ngoài do ngoại tại tác động. Còn khi nói đến hạnh phúc trong đời tu, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nói khi gặp gỡ các linh mục và tu sĩ tại Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm mục vụ năm 2008: “Giáo Hội không cần có nhiều linh mục, tu sĩ chỉ đề có nhiều, nhưng Giáo Hội cần có các linh mục, tu sĩ hạnh phúc vì được là linh mục tu sĩ”. Rồi trong năm Đức Tin vừa qua, Giáo Hội cũng mời gọi con cái của mình: “Tái khám phá hành trình Đức Tin để làm sáng lên niềm vui, lòng phấn khởi được gặp gỡ Đức Kitô”. Tiếp theo, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã quyết định chọn năm 2014 là năm: “Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình”, qua đó các ngài mời gọi mọi thành phần dân Chúa sống tinh thần “Tân Phúc Âm Hóa Gia Đình để thông truyền Đức Tin”. 

Tất cả những lời giáo huấn của các đấng chủ chăn trong Giáo Hội luôn mời gọi mỗi người hãy cảm nghiệm được: “Evangelii Gaudium - Niềm Vui Tin Mừng”. Khi cảm nghiệm được niềm vui và hạnh phúc vì có Chúa ở cùng và sống với, mỗi người chúng ta mới có thể loan báo và lưu truyền Đức Tin cho thế hệ tương lai. 

Tuy nhiên, thành phần quan trọng trong sứ vụ này không ai khác là chính những người sống đời thánh hiến. Nhưng trước khi giúp cho người khác khám phá và tái khám phá niềm vui, hạnh phúc khi đi theo và gắn bó với Đức Kitô, thì chính những người được thánh hiến phải trở nên dấu chỉ về niềm hy vọng, hạnh phúc và niềm vui của mình cho người khác. 

2. Đời tu và hạnh phúc

Có một câu chuyện kể rằng: “Một ông vua giàu có nọ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận được tiền do sự cưỡng bách.

Ngày nọ, ông vua giàu có đã cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm được những đồng tiền bố thí... Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông được nhiều người giúp đỡ ông và tỏ lòng thương mến. Tối về, ông tự nghĩ: ‘bây giờ ta mới thực sự là người giàu có nhất trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ không do một sự cưỡng bách nào’.

Một thời gian sau đó, ông gom góp tặng hết những gì mình có cho người nghèo trong vùng rồi chảy đi nơi khác. Ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì có phúc hơn là nhận lãnh... Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: ‘Tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian này’”.

Đời tu cũng thế, hạnh phúc không phải là ở trong một nhà dòng to lớn có bề dày về truyền thống, hay có những cơ sở hạ tầng vĩ đại, hoặc một giáo xứ lớn, những nơi giáo dân luôn tôn trọng, nâng đỡ và tạo điều kiện thuận lợi là hạnh phúc. Không! Hạnh phúc đời tu không phải như thế! Hạnh phúc trong đời tu chính là gắn bó với Chúa liên lỉ trong đời sống hằng ngày. 

Chỉ có sự gắn bó với Chúa, được biểu hiện qua đời sống cầu nguyện, chúng ta mới thấy được hạnh phúc nội tâm và niềm vui chia sẻ. 

Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo nói: “Cầu nguyện Kitô giáo là mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô” (x. GLHTCG số 2564). 

Như vậy, nhờ cầu nguyện, chúng ta được đi vào giao ước thánh của lòng ta với Thiên Chúa. Có cầu nguyện, ta mới khám phá ra hạnh phúc thật và hạnh phúc giả tạo: “Hãy sống thân tình với Thiên Chúa và xây dựng bình an, anh sẽ tìm lại được hạnh phúc” (G 22, 21).

3. Sống thân tình với Thiên Chúa

Khi chọn đời sống tu trì để hiến dâng cho Thiên Chúa và con người, thì đời tu của mỗi chúng ta là một cuộc giao ước thánh. Thông qua giao ước này, ta chọn Chúa làm Chủ đời ta, ta thuộc về Ngài, và Ngài thuộc về ta. Cuộc giao ước này là một cuộc giao ước tình yêu. Lời mời gọi của Đức Giêsu “hãy theo Thầy” và ta đáp trả, ấy là một cuộc tình được thiết lập, mà Đức Giêsu là người chủ động đi bước trước. 

Đây là một lời mời gọi mang đầy tình mến mà Đức Giêsu dành cho những ai Ngài chọn. Khi chúng ta đáp lại lời mời gọi đó, là chính lúc ta được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Thánh Phaolô đã nói thật thâm sâu: “ Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Ðức Kitô Giêsu, Chúa của tôi …” (Pl 3, 8).

Tông Huấn về đời sống thánh hiến khẳng định: “Khởi điểm của chương trình này là sự kiện phải rời bỏ tất cả để theo Đức Kitô” (ĐSTH số 93) và sống gắn bó với Ngài.

Sự gắn bó với Đức Kitô được hiểu như là sự sống còn. Chính Ngài cũng đã diễn tả tâm tình này khi đưa ra hai dụ ngôn người tá điền và anh lái buôn: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13,44 – 46). 

Niềm vui và hạnh phúc của người môn đệ chính là xác tín thật chắc chắn về vị Thầy mà mình quyết định đi theo để được ở cùng và sống với Ngài. Vị Thầy đó chính là kho tàng, là viên ngọc quý. Nói cách khác, Ngài là lẽ sống, là lý tưởng, là thần tượng của chúng ta. Vì thế, không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 38). “Khi được Ngài, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Kitô” (x. Pl 3,7-8). Trong Tin Mừng, chúng ta cũng thấy có câu chuyện chàng thanh niên giàu có được Đức Giêsu đem lòng yêu mến, quý trọng và mời gọi anh ta bước đi theo Ngài để được hạnh phúc: “ Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi". (22) Anh ta sa sầm nét mặt vì lời đó, và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,21-22). Tuy nhiên, anh đã không đáp lại lời mời gọi ấy và đã buồn rầu bỏ đi chỉ vì anh ta có nhiều của cải. Chúa của anh là đồng tiền. Chính đồng tiền đã chiếm địa vị độc tôn nơi anh ta. 

Trong thực tế, giới nhà tu của chúng ta cũng vậy. Có rất nhiều người muốn theo Chúa, hiến thân để sống đời phục vụ... Nhưng oái oăm thay, họ lại không chịu những điều kiện đi đôi với ước muốn đó. Họ muốn cả hai và luôn trong tình trạng sẵn sàng “bắt cá hai tay”; hay “tu sĩ hàng hai”. Họ ngại khó, ngại hy sinh, và khó từ bỏ. Hoặc thay vì đi theo và chọn Chúa, thì lại chỉ lo làm việc của Chúa! Đến khi không có việc của Chúa hay không ưng ý với công việc được trao thì sinh ra buồn phiền, chán nản và bỏ đi như chàng thanh niên giàu có kia.

Chính vì thế, chúng ta không lạ gì khi thấy rất nhiều người tỏ vẻ bên ngoài thành công, mũ mão cân đai, họ nói cười oang oang, họ vỗ ngực xưng tên, họ được nhiều người trọng dụng... Nhưng thực chất, khi đối diện với lương tâm, họ là những người bi đát, thất vọng vì không có nguồn hạnh phúc thật là chính Chúa, mà chỉ có những thứ hạnh phúc rẻ tiền mà thôi. 

Vậy muốn có một cuộc đời hạnh phúc thật, thì trước tiên, người sống đời thánh hiến phải yêu mến và siêng năng đời sống cầu nguyện.

4. Đời sống cầu nguyện nơi người thánh hiến

Nói đến nghề đi buôn, người ta nghĩ ngay đến chuyện buôn gì, có lời hay lỗ. Cũng vậy, khi nói đến đời tu, người ta nghĩ ngay đến đời sống cầu nguyện. Cầu nguyện được ví như hơi thở: " Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái,nhưng thể xác lại yếu đuối" (Mt 26,41). Nếu không cầu nguyện, chúng ta còn có nguy cơ bị cám dỗ và xa dần Thiên Chúa nữa. 

Cầu nguyện đối với người sống đời thánh hiến được khởi đi từ lúc bình minh đến khi chiều tà. Từ khi mặt trời ló rạng đến khi khuất núi ban chiều. Mẹ Têrêsa Calcutta đã cầu nguyện liên lỉ. Cầu nguyện trong mọi cảnh huống thường ngày. Tuy nhiên, mẹ không phải lúc nào cũng ở trong nhà thờ để cầu nguyện. Với mẹ, mọi nơi mọi lúc đều có thể cầu nguyện được. Chính vì thế, hễ những ai gặp được mẹ, từ người quyền cao chức trọng, đến thường dân. Từ người giàu đến người sống trong khu ổ chuột... ai ai cũng cảm thấy hạnh phúc và vui mừng khi gặp mẹ. Mẹ không có tiền bạc, không phải là một phụ nữ hấp dẫn, trẻ trung, không phải là người có địa vị trong xã hội... Nhưng mẹ hấp dẫn là vì mẹ có tình yêu. Tình yêu của mẹ là tình yêu hướng tha, được khởi đi từ sự cầu nguyện. Chính trong đời sống cầu nguyện mà mẹ cảm nghiệm thật hạnh phúc, đồng thời mẹ trao ban niềm vui và hạnh phúc đó cho mọi người. 

Trong đời tu, nhiều khi chúng ta không cảm thấy hạnh phúc ngay trong những chiến thắng bề ngoài. Tại sao vậy? Thưa chỉ đơn giản là không có cầu nguyện. Hay lời cầu nguyện của chúng ta bị đóng khung ở bên trong nhà thờ; bị khóa chặt trong cuốn sách kinh mà không hề ăn nhập gì với cuộc sống cả. Những người như thế, họ như là “xác không hồn” và không sớm thì muộn, đời tu của họ sẽ sụp đổ tan tành ngay bởi sự nhàm chán trong công việc phụng vụ, phục vụ và nỗi cô đơn trong đời tu. 

Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận trong tác phẩm Đường Hy Vọng có nói: “Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động” (ĐHV 119). 

Khi không có đời sống cầu nguyện trong cuộc đời của người tận hiến, chúng ta làm mọi chuyện chỉ là việc cưỡng ép, mà nếu làm như vậy, thì có lẽ máy móc tân tiến ngày nay làm hơn chúng ta nhiều. 

Nếu chúng ta không có đời sống cầu nguyện, thì chúng ta mất đi nguồn sự sống, nguồn bình an, và như thế, chính bản thân ta đâu có đủ tư cách nói rằng tôi làm việc này hay việc khác vì Chúa đâu! “Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện (ĐHV 120). Những người không có đời sống cầu nguyện, thì dù họ có làm được phép lạ cũng đừng tin. Cuộc đời của họ sẽ sụp đổ nhanh chóng vì họ xây nhà trên cát (x. Lc 6, 49).

Có rất nhiều anh chị em chúng ta nói: tôi cầu nguyện rất nhiều, tôi dành cho Chúa rất nhiều thời giờ, nhưng sống với anh chị em trong cộng đoàn thì chẳng ra gì cả. Người đời thường nói: “Khoảng cách xa nhất trong cuộc sống chính là từ miệng đến bàn tay”.

Như vậy, cầu nguyện phải là một trạng thái thanh thoát và bình an. Cầu nguyện không phải là chuyện làm cho xong để rồi giờ cầu nguyện được ví như giờ lên lớp hay trả bài. Không phải thế, cầu nguyện là lòng với lòng, ta với Chúa trong tình Cha - con. Vì thế, đừng lý luận cao siêu, đừng bóp trán nặn óc để thưa lên với Chúa những lời sáo rỗng từ chương, nhưng thực chất chẳng có gì. 

Mặt khác, cầu nguyện còn giúp cho mỗi chúng ta trở về với lòng mình cách chân thực để biết mình và biết Chúa. Nhận ra con người yếu đuối của mình, và nhận ra Thiên Chúa là đáng tuyệt mỹ. Khi nhận ra mình như thế thì điều đầu tiên cần có là tâm hồn sám hối và sung sướng vì được Chúa thương yêu. Khi họ cầu nguyện, họ được vì như: “Người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bảo táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá ” (Mt 7, 24-25). 

Những người sống đời cầu nguyện thâm sâu, thì họ sẽ suy nghĩ, nhìn, nói, hành động theo ý muốn và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Khi kết hiệp với Chúa, họ không ngừng sám hối và cũng không ngớt được thúc đẩy mở rộng lòng bao dung, tình thương đến với người khác. Pierre Van Brieman đã nói: “Cầu nguyện là mở tâm hồn, mở trái tim và đôi bàn tay trước mặt Thiên Chúa. Tôi còn bám víu vào nhiều thứ trong đời sống của tôi và quyết nắm chặt lấy chúng trong tay: của cải vật chất, tinh thần, công việc, địa vị của tôi, bạn bè, nguyên tắc của tôi… Nếu tôi mở tay ra, những ‘của cải’ trên vẫn còn đó, có lẽ không một vật nào rơi bớt đi, nhưng ít nhất đôi bàn tay tôi đã mở. Thái độ đó là thái độ của người cầu nguyện”.

Người sống đời tận hiến chỉ hạnh phúc khi gắn bó với Nguồn cội, với Đấng đã, đang và sẽ ban cho mình tất cả. 

Nói cho cùng, chúng ta hạnh phúc vì đã mở ra, mở ra với Thiên Chúa và mở ra với tha nhân.

Như một lời kết luận, xin mượn câu chuyện của mẹ Têrêsa Calcutta với một ký giả, khi ông này có buổi tiếp xúc với mẹ. 

Câu chuyện được bắt đầu với lời hỏi của anh ta:

Sáng nay mẹ làm gì?

Cầu nguyện. 

Bắt đầu từ mấy giờ?

4 giờ rưỡi.

Và sau khi cầu nguyện?

- Chúng tôi tôi tiếp tục cố gắng cầu nguyện qua công việc bằng cách làm những công việc đó với Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu. Điều này giúp chúng tôi đặt cả trái tim và tâm hồn mình vào công việc đang làm. Những người đang hấp hối, những người đang co quắp, những người bệnh tâm thần, những người bị bỏ rơi, những người không được yêu thương. Họ là Chúa Giêsu cải trang....

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy đời sống cầu nguyện của chúng ta rất quan trọng. Khi cầu nguyện, chúng ta tin nhận Thiên Chúa là chủ đời ta cũng như vận mệnh của đời ta. Chúng ta sẽ làm mọi chuyện vì quy Kitô. Lấy Chúa Kitô làm trung tâm của ơn gọi và sứ vụ. Lúc đó chúng ta sẽ hạnh phúc vì có Chúa ở cùng chứ không bị lệ thuộc vào những công việc của Chúa hay những thứ bề ngoài.

Jos.Vinc. Ngọc Biển2/15/2014
http://www.vietcatholic.org/News/Html/121620.htm

Báo Tin Lành nhận định về Đức Phanxicô: Giáo Hoàng cuả những người Tin Lành

Giáo Hoàng của những người Tin Lành (Pope of the Evangelicals) là tiêu đề cuả một bài xã luận của ông Micheal Wear, cựu cố vấn tranh cử cho Tổng Thống Obama trong chương trình tranh cử Liên Tôn gọi là Values Partnerships. 


Bài viết đã được đăng trên bản tin On Faith (cuả tờ báo The Washington Post) và tờ báo The Christian Post vừa mới đăng lại trên trang đầu ngay trong ngày lễ Valentine vừa qua. 

The Christian Post là một tờ báo uy tín cuả Tin Lành có trụ sở tại Washington DC, New York, San Francisco và nhiều quốc gia khác như Indonesia, Singapore, và Mexico. Vị chủ tịch đương nhiệm là William L. Wagner, từng làm phó chủ tịch cuả Southern Baptist Convention (Liên Hiệp các hội thánh Baptist Miền Nam). Trong số cộng sự viên người ta thấy có nhiều nhân vật danh giá như muc sư Billy Graham, Charles Colson, R. Albert Mohler, Jr. .. 

Tuy rằng quan điểm cuả tác giả không nhất thiết là đồng điệu với người Công Giáo chúng ta, nhưng chúng tôi cũng xin được lược dịch bài viết này để cống hiến cho qui độc giả một cái nhìn về những ý nghĩ hiện thời cuả xã hội bên ngoài:

Giáo Hoàng của những người Tin Lành 

MICHAEL WEAR, CP OP-ED CONTRIBUTOR

Ngày 14 tháng Hai, 2014

Trong một thế giới hậu thế tục và hậu Kitô giáo ở Mỹ, người ta đã tưởng rằng xã hội không còn có thể có được những bậc vĩ nhân trên hai lãnh vực tôn giáo và trên bình diện quốc tế được nữa. Thế mà lại xuất hiện một vị Giáo Hoàng Phanxicô - người từng chỉ được biêt đến một cách mơ hồ là Tổng Giám Mục Jorge Mario Bergoglio - đã trở thành một ngôi sao sáng chói giống như một ngôi siêu sao nhạc rock mà người ta đã nghĩ là không còn có thể có trong môi trường tôn giáo. Đức Thánh Cha Phanxicô đã tạo được một cử toạ rộng lớn, thân thiện tại Hoa Kỳ, và người Công Giáo Mỹ đã tìm thấy một niềm hy vọng mới cho Giáo Hội của họ.

Mặc dù người Tin lành không thích thú gì trước sự nở rộ của Giáo Hội Công Giáo, nhưng thực ra những người Tin lành vẫn có thể dự phần vào sự thành công và vào sức quyến rũ của Ngài (ĐTC Phanxicô). Sự cất cánh tung bay cuả hiện tượng Phanxicô cho thấy rằng, trong thế kỷ mới này, người Kitô giáo vẫn có thể có một sự hiện diện và có thể gây tác động đến đời sống công cộng của Mỹ.

Sức quyến rũ cuả giáo hoàng Phanxicô dựa vào phương cách tiếp cận cuả Ngài là nhắm vào việc mục vụ, bao gồm những người khác biệt, và sự khiêm tốn về chức vụ giáo hoàng. Ngài né tránh không xử dụng các đặc quyền thế tục giống như những vị tiền nhiệm, thí dụ, Ngài chọn một tủ quần áo đơn giản và một chỗ ở và một chiếc xe ít sang trọng. Ngài tiếp cận nhiều người một cách bất ngờ như việc Ngài rửa chân cho một cô gái Hồi giáo, gặp gỡ và ăn cơm với những người vô gia cư và những người sống bên lề xã hội, Ngài cho nhà báo vô thần Eugenio Scalfari phỏng vấn, khuyến khích các bà mẹ cho con bú trong nhà thờ, và nói năng cách khiêm tốn khi đề cập đến chủ đề linh mục đồng tính. 

Nhưng có lẽ điểm nổi bật đã trở thành định nghĩa cuả triều đại Phanxicô vẫn là cách lãnh đạo về mục vụ của Ngài. Đây là một người đặt ưu tiên lên việc làm thế nào để cho người ta trải nghiệm sự sống đạo, và Ngài hiểu được rằng học thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế thì rất là giới hạn. Sự thay đổi về nhận thức này đã được chính Ngài mô tả rõ ràng như sau: 

Điều mà Giáo Hội đang cần là khả năng chữa lành vết thương và hâm nóng trái tim của các tín hữu, Giáo Hội cần sự gần gũi, tiếp cận. Tôi coi nhà thờ như là một bệnh viện dã chiến sau một cuộc giao tranh. Thật là vô ích mà hỏi một người bị trọng thương rằng họ có độ cholesterol cao bao nhiêu và độ đường trong máu ra sao! Bạn cần chữa vết thương của họ đã. Rồi sau đó chúng ta có thể nói về tất cả mọi thứ khác.

Tấm gương lãnh đạo của Ngài, mặc dù không phải là chưa từng có, đã đánh trúng vào yếu huyệt cuả nhiều người Mỹ từng có nhiều hoài nghi về đức tin. Và do đó, sau nhiều thập kỷ suy giảm, người Công Giáo Mỹ đang bắt đầu cảm thấy có một làn gió thuận thổi ở sau lưng.

Trong lúc Giáo Hoàng Phanxicô đang thành công giúp người Công Giáo tìm lại vị thế cuả họ trong thế kỷ XXI, thì những người Tin Lành đang cảm thấy rằng họ dần dà bị mất chân đứng. Cái xu hướng về tôn giáo trong thập kỷ vừa qua là "sự trỗi dậy của những người không tin" ( "rise of the nones," ) là những người không có tôn giáo nào cả. Đại đa số những người Tin lành (71%) cảm thấy rằng tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ sẽ bị hạn chế hơn trong năm năm tới. Bảy mươi hai phần trăm người Tin Lành tin rằng đức tin đang mất dần ảnh hưởng ở Mỹ. Người Tin Lành cảm thấy họ bị áp lực trên tất cả mọi lãnh vực: nhân số, tinh thần, chính trị, và văn hóa.

Chỉ mới 50 năm trước, John Kennedy (Công Giáo) đã buộc phải đảm bảo với những người theo đạo Tin Lành ở Mỹ rằng ông sẽ không tìm kiếm lời khuyên từ Vatican nếu ông làm tổng thống. Thế mà ngày nay, nhiều người Tin Lành lại đang nhìn đến tấm gương cuả Giáo Hoàng Phanxicô để tìm kiếm một lối đi cho họ trong quốc gia mới này.

Ngài cống hiến một mô hình truyền giáo thú vị mà một số thế hệ Tin Lành trẻ đang học cách áp dụng trên một quy mô nhỏ hơn, với nhiều mức độ khác nhau, một cách âm thầm. Người ta có thể nhìn thấy ngay trong đường lối lãnh đạo cuả Jim Daly của nhóm Focus on the Family, là tập trung sự chỉ đạo vào nhiệm vụ cốt lõi là phát triển các vấn đề về gia đình thay vì hoạt động như là một tổ chức vận động chính trị. Hay như cuả Russell Moore, tân chủ tịch ủy ban Đạo Đức và Tự Do Tôn Giáo cuả Liên Hiệp Baptist Miền Nam (Southern Baptist Convention's Ethics & Religious Liberty Commission), chú trọng nhiều hơn đến hy vọng và sự cam kết toàn diện. Nhiều làn sóng của các tổ chức Kitô giáo mới cuả thế kỷ XXI như những chương trình Q, Catalyst, Hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo toàn cầu Willow Creek (Willow Creek Global Leadership Summit), Hội đồng Công Lý (the Justice Conference), và những tổ chức khác cũng đang tìm cách đối diện với những thách thức của ngày hôm nay bằng những phương pháp sáng tạo hơn và thanh nhã hơn. Người ta cũng tìm thấy phương pháp tiếp cận cuả Ngài được băt chước bời các blogger và các nhà văn Kitô giáo, tức là tranh biện những vấn đề đang gây tranh cãi với một tinh thần tự giác và suy tư chứ không còn là công kích hay ném bom vào địch thủ.

Những loại người Tin Lành mới mạnh mẽ tin rằng, đức tin kiểu mù quáng theo lối bè phái cuả các thế hệ trước đã vĩnh viễn gây tổn thương cho Giáo Hội cuả họ. Câu hỏi mà họ đang thử nghiệm qua các công việc của họ, và (cũng là) câu hỏi cốt lõi của giáo triều Phanxicô, đó là liệu rằng một sự bao dung hơn, mục vụ hơn, và khiêm tốn hơn có đủ để duy trì một tiếng nói Kitô giáo mạnh mẽ trên thị trường cạnh tranh giữa các ý tưởng ở Mỹ không.

Đức Thánh Cha Phanxicô một phần nào đã có sẵn một ưu thế là được tổ chức của Hội Thánh hỗ trợ trên nhiều phương diện quan trọng. Trong một quốc gia mà việc chỉ trích giáo lý Kitô giáo trở thành công khai hơn bao giờ hết, thì những nghi lễ và lịch sử của Giáo Hội Công Giáo cung cấp một lời nhắc nhở về truyền thống của đức tin. Ngay cả nhiều người Tin Lành trẻ cũng cảm thấy họ đang cần có lời nhắc nhở này và đã tham gia một số nhà thờ đặt nghi lễ phụng vụ lên hàng đầu. 

Nhưng một số điểm mạnh của Công Giáo không dễ dàng áp dụng cho người Tin Lành trong quang cảnh chính trị văn hóa hiện tại. Ví dụ, người Tin Lành vì nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể giải thích Thánh Kinh, đã làm cho nhiều quan điểm cuả họ, dù là có gốc tích vững vàng trong lịch sử, trở thành chủ quan và không cần thiết đối với người bên ngoài, trong khi đó thì người Công Giáo có thể dựa vào lịch sử và vào những thành quả đã đạt được bằng những giá đắt đỏ cuả Giáo Hội từ trước. Người Công Giáo lại có một học thuyết xã hội, được thể chế hóa qua nhiều thông điệp và tông huấn, và được xây dựng lên qua nhiều thiên niên kỷ. 

Cuối cùng, bởi vì Giáo Hội Công Giáo có một người lãnh đạo rõ ràng, cho nên một sự thay đổi lãnh đạo có thể cung cấp một cơ hội tự nhiên để "sửa đổi nhãn hiệu" và sửa chữa lối đi trong phong cảnh văn hóa. Còn các giáo phái Tin Lành, vì ít thứ bậc và ít ảnh hưởng lên trên các thành viên, thì việc lãnh đạo có vẻ như là ở trong một thị trường bị sứt mẻ. Nhìn dưới một con mắt lạc quan nhất thì điều này có thể tạo điều kiện cho phép các ý tưởng nổi bật được mau chóng thăng tiến lên cao, nhưng nó cũng tạo ra điều kiện cho một nạn phân hoá và, trớ trêu thay, vì thiếu một cơ cấu thống trị, bất kỳ một nỗ lực 'tự làm lại mình' nào cũng đều trở thành chậm trễ. 

Sự nổi lên của hiện tượng Phanxicô làm cho người Tin Lành tưởng tượng đến sự nổi lên cuả chính họ một cách dễ dàng hơn. Chúng ta cần lưu ý rằng cảm tình cuả công chúng Mỹ dành cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô không phải là kết quả của một sự đồng quan điểm giữa Ngài và cuả họ. Đây là một giáo hoàng đang thúc đẩy việc truyền giáo cho những người ngoài Kitô giáo, đang tìm cách duy trì quan điểm của Giáo Hội trên nhiều vấn đề khác nhau, từ việc truyền chức linh mục cho nữ giới cho đến vần đề hôn nhân và phá thai, và là một người rõ ràng, hoàn toàn sống trong tình yêu với Chúa Giêsu.

Không biết tuần trăng mật giữa người Mỹ và vị Giáo Hoàng này sẽ còn kéo dài được bao lâu. Đã có, một số tiếng nói đặt câu hỏi liệu rằng cách tiếp cận cuả Đức Phanxicô là có đủ không, hoặc học thuyết Công Giáo sẽ có thể làm suy giảm sự ngưỡng mộ rộng rãi với Đức Giáo Hoàng hay không. Một số những người theo dõi tôn giaó đã có một cảm giác lo ngại, một loại linh cảm rằng những yếu tố giáo lý không được lòng dân cuối cùng sẽ bắt kịp với vị Giáo Hoàng. Tuy nhiên, cho tới nay thì hy vọng vẫn còn dẫy đầy. Qua một năm giáo hoàng của Ngài, người Mỹ đã dọn một phòng cho một vị Giáo Hoàng khiêm tốn, bao dung, và mục vụ này. Và trong khi Ngài vẫn còn tiếp tục truyền cảm hứng cho người Mỹ, thì người Tin Lành vẫn còn có một sự tự tin là vẫn còn một chỗ ở cho họ trên đất nước này.

Trần Mạnh Trác2/16/2014
Nguon:http://www.vietcatholic.org/News/Html/121631.htm

Phải Chăng Tính Dục Có Tội Hay Không Có Tội?

Dẫn nhập
Tự bản chất, tính dục là một hồng ân mà Thiên Chúa trao tặng cho con người. Bởi thế, con người luôn hướng đến một phần của mình, vì Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, đánh dấu trong thân thể của mình sự khác biệt (St 1,27). Sự khác biệt giữa người nam và người nữ là yếu tố làm nên hai bản tính con người. “Đây là một yếu tố để con người nhìn nhận mình bị giới hạn, khi phái tính của họ được nhìn nhận trọn vẹn, có điều kiện của một tương quan tình yêu, nhìn nhận người khác như là đối tác của một giao ước. Giao ước giữa người nam và người nữ có thể là hình ảnh của Thiên Chúa ký kết với con người, không phải là không có khác biệt, lẫn lộn, nhưng là một tương quan giữa hai phía khác nhau và phân biệt nhau”.[1]
Thế nhưng, trong cuộc sống con người của mọi thời đại hay ở mọi quốc gia, tính dục được xem như một một vấn đề thời sự, đang thay đổi cách sâu xa và có nhiều vấn nạn được đặt ra. Một trong những vấn nạn được đặt ra đó là: “Phải chăng tính dục có tội hay không có tội?”. Đây là vấn nạn không chỉ đưa ra câu trả lời một cách theo cảm tính hay vì lòng ích kỷ hẹp hòi của con người, nhưng nó còn liên quan đến truyền thống luân lý và ý định của Thiên Chúa. Như thế cần phải thận trọng và tìm hiểu cách đầy đủ để giải quyết vấn nạn trên.
Do đó, trong phạm vi đề tài trên, người viết xin suy tư cũng như tìm hiểu một vài khía cạnh liên quan đến tính dục dựa trên nền tảng truyền thống luân lý cũng như Giáo huấn của Giáo hội. Thứ nhất, thử xem Xã hội ngày nay quan niệm như thế nào về tính dục; thứ đến Giáo huấn của Giáo hội nói gì về tính dục?; cuối cùng người viết xin đưa ra vài Nhận định cá nhân về vấn đề trên.
1.  Xã hội quan niệm như thế nào về tính dục
Khi nói đến đời sống của con người trong một xã hội, hay trong một quốc gia, chúng ta không thể không nghĩ đến vấn đề tính dục được. Tính dục là một phần không những quan trọng, mà còn rất đặc biệt, phức tạp đối với con người qua mọi thời. Bởi thế, “người ta thấy tính dục luôn được xã hội hóa, và bị kiểm soát rất chặt. Nào là qui định những nghi thức, nơi chốn dành riêng, những cấm kỵ… nhất là giới luật căn bản nhất mà các nhà xã hội học nhận thấy trong mọi thể chế con người, đó là điều cấm loạn luân. Tính dục con người có đặc tính thường xuyên là tách rời việc thỏa mãn dục vọng khỏi chức năng sinh sản. Đây là điểm gây nguy cơ không ít cho xã hội con người”.[2]
Nhưng trong thực tế, cụ thể ở Việt Nam, quan niệm tính dục ngày nay thường bị coi nhẹ, không muốn nói là rất tự do. Ngày nay, trong tầng lớp các bạn trẻ từ những thành phần thuộc lứa tuổi học sinh cấp II lên đến bậc đại học, họ quan niệm tính dục là một điều bình thường như những nhu cầu khác. Nghĩa là muốn là được, cũng như đói thì ăn và khát thì uống. Họ không còn nghĩ đến tính dục là một điều thầm kín, tốt đẹp và thiêng liêng. Bởi thế, từ quan niệm sai lạc đó đã dẫn họ đi đến những hành động không những bất chấp những qui tắc về luân lý, mà còn đi đến những chuyện động trời và rất bất thường trong tính dục.
Từ một học sinh ngoan hiền của tuổi mười bốn, đáng lẽ ra tuổi này chỉ biết học tập và vui chơi với một tâm hồn trong sáng. Nhưng thực sự có nhiều bạn đã đánh mất sự ngoan hiền trong sáng đó để dành chỗ cho những vấn đề của người lớn hoành hành và thống trị họ. “Tuổi đó mà họ đã có bầu, chuẩn bị cho một đám cưới khi chưa tốt nghiệp cấp hai”[3]. Một điều đáng quan tâm nữa đó là, hiện nay có nhiều bạn nam với nam, nữ với nữ đã đến với nhau và đáp ứng lẫn nhau hầu thỏa mãn dục vọng.[4] Họ xem đó là chuyện thường! Hiện tượng này cũng không hẵn là do đồng tính, nhưng đôi lúc họ xem đó là mốt thời thượng của tuổi trẻ thời nay. Một hiện tượng lạ khác nữa đó là, trao đổi vợ với nhau.[5] Thú chơi này thật là khủng khiếp. Họ dám đưa vợ mình cho người khác “sử dụng”, vui chơi và thỏa mãn. Thật là những trò chơi tính dục tai quái và vô luân. Một nước Việt Nam ngàn năm Văn Hiến mà có những thú chơi động trời thế đó. Họ đã biến vấn đề tính dục tự bản chất là chỉ dành riêng cho vợ chồng và nhắm đến việc sinh sản thành những đồ chơi và giải trí nhằm để đáp ứng thỏa mãn dục vọng và lòng ích kỷ của họ.
Từ những chứng cớ trên, chúng ta có thể biết và nhận định về quan niệm tính dục trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Do quan niệm sai trái, lệch lạc cũng như sống buông thả về tính dục nên đã đưa đến những hậu quả không mấy tốt đẹp về tính dục. Tự bản chất, tính dục không là xấu. Nhưng xã hội và con người đã biến tính dục thành những công cụ, phương tiện giải trí, thậm chí như là món hàng để trao đổi giữa người với người. Đây là điều chúng ta cần xem xét lại và nên đưa ra những phương hướng giải quyết để giáo dục cũng như hướng dẫn các tầng lớp trẻ hiểu đúng và sống đúng về tính dục. Đặc biệt, phải đưa nó về đúng với vẻ đẹp nguyên thủy và sống đúng với những qui tắc luân lý tự nhiên cũng như của xã hội đã đề ra.
Xã hội ngày nay quan niệm và đang sống tính dục như thế, vậy Giáo hội có quan niệm hay hướng dẫn như thế nào về vấn đề tính dục?
2.  Giáo huấn của Giáo hội nói gì về tính dục
Một vấn đề mà Giáo hội luôn quan tâm và chú trọng trong chương trình mục vụ đó là hôn nhân và gia đình. Khi nói đến hôn nhân, chúng ta không thể tránh khỏi đề cập đến đời sống tính dục. Bởi thế, Giáo hội đã đưa ra nhiều giáo huấn cũng như cách thức để hướng dẫn cho con cái của mình sống đời sống tính dục sao cho phù hợp và đẹp lòng Thiên Chúa. Phần này, người viết xin trình bày và đưa ra những hướng dẫn của Giáo hội từ Công đồng Vatican II cho tới nay liên quan đến đời sống hôn nhân và gia đình. Công đồng Vatican II đã dành một chỗ quan trọng cho mục vụ hôn nhân và gia đình trong Hiến chế Gaudium et Spes, từ các số 46 – 52. “Đây được coi như vấn đề thuộc ý chí con người, tình yêu này có nghĩa hơn thèm muốn thể lý, dù bao gồm biểu thức thể lý. Nó khác biệt với mọi hình thức khác của tình bạn ở điểm nó được biểu lộ và được hoàn hảo bằng hành vi thể lý của vợ chồng, một hành vi vừa biểu tượng vừa phát huy việc vợ chồng hiến dâng cho nhau”.[6]
Tình yêu phu phụ này được bắt đầu từ nguồn suối tình yêu của Thiên Chúa và được noi theo khuôn mẫu tình yêu của Đức Kitô với Hội thánh. Một tình yêu sắt son và chung thủy đến muôn đời. Chính tình vợ chồng đã đưa họ đi đến sự tương trợ và phục vụ lẫn nhau trong đời sống hôn nhân và gia đình. Vì trong giao ước hôn nhân, người nam và người nữ trở nên một một xương một thịt, họ không còn là hai, nhưng trở nên một (Mt 19,6). “Chính vì thế, họ sống phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau nhờ sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ bằng cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày. Từ sự tự hiến và liên kết với nhau trong trách nhiệm và tự do, cũng như ích lợi của con cái nên vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi chung thủy với nhau suốt đời”.[7]
Mục đích của hôn nhân là nhắm đến việc giúp đỡ lẫn nhau và sinh sản con cái, cũng như giáo dục chúng nên người. Do đó, Công đồng đã khẳng đinh: “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân”.[8] Như thế, chính Giáo hội đã khẳng định rằng, bản chất của tình yêu hôn nhân là hướng đến việc sinh sản. Nhưng có vấn nạn đặt ra rằng: liệu vợ chồng có thể dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo hay không?  Điều này Giáo hội khẳng định là không được sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo trong đời sống hôn nhân. Vì nó đã đi ngược lại với luật tự nhiên cũng như ý định của Thiên Chúa. Giáo hội cũng nhắn nhủ các đôi vợ chồng sinh con cái luôn có trách nhiệm đối với chúng. Bởi vậy, bổn phận luân lý không chỉ bao gồm động cơ mà thôi, nhưng còn đòi phải tuân giữ các tiêu chuẩn khách quan nữa. Trong phạm vi tác phong tính dục, các tiêu chuẩn này là các tiêu chuẩn biết dựa vào bản chất con người nhân bản và các hành vi của họ, để duy trì trọn vẹn ý hướng tự hiến cho nhau và sinh con bằng một tình yêu chân chính và hoàn toàn tự do. Có thể nói rằng, du rằng đi nữa, Giáo hội vẫn khẳng định là tính dục và hôn nhân luôn được qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái. Không được tách biệt hay loại trừ việc kết hợp vợ chồng ra khỏi mục đích sinh sản con cái của hôn nhân. Có nghĩa là họ sống không phải chỉ vì mình, cho mình, nhưng còn cho con cái của họ nữa. Cũng trong bối cảnh đầy khó khăn như thế, (Ủy ban Giáo hoàng năm 1966)[9] đã bàn tới vấn đề ngừa thai thì cho rằng: Nếu việc ngừa thai nhân tạo trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó có thể giúp cho sự kết hợp vợ chồng thì nó đã gián tiếp nhằm mục đích phục vụ sinh sản của hôn nhân. Hơn nữa, nếu ngừa thai nhân tạo giúp cha mẹ săn sóc tốt hơn những đứa con hiện có thì nó cũng đã phục vụ với mục đích sinh sản rồi!?.
Cuối cùng, tháng 8 năm 1968, hơn hai năm sau khi nhận được các phúc trình của ủy ban, sau khi chuẩn bị cách kỹ lưỡng, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã công bố thông điệp Humanae Vittae (Sự Sống Con Người). Trong thông điệp, ngài đã tiếp nhận phần lớn liên quan đến hôn nhân và gia đình trong Hiến chế Gaudium et Spes. Ngài khẳng định lại rằng: “Hôn nhân là định chế khôn ngoan của Tạo Hóa để thể hiện kế hoạch yêu thương của Người nơi nhân loại. Nhờ việc tự hiến cho nhau, một sự tự hiến riêng biệt và có tính độc hữu đối với họ, chồng và vợ cùng hướng về sự hiệp thông con người của họ nhằm hoàn thiện lẫn nhau, cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản và giáo dục sự sống mới”.[10] Như thế, tình yêu hôn nhân không nhắm đến sự thỏa mãn thân xác, nhưng nó là một tình yêu mang tính nhân bản và tính tâm linh cùng một lúc. Do đó, Đức Phaolô VI đã bác bỏ việc sử dụng ngừa thai nhân tạo, và ngài nhắc lại giáo huấn truyền thống của Giáo hội là mọi hành vi vợ chồng phải sẵn sàng cho việc truyền sinh. “Quả thực, do cơ cấu thâm sâu của nó, hành vi vợ chồng, trong khi mật thiết kết hợp với nhau, đã giúp họ có khả năng sinh ra sự sống mới, phù hợp với các định luật được khắc ghi trong chính hữu thể của họ. Nhờ bảo vệ cả hai khía cạnh chủ yếu này, tức là khía cạnh kết hợp và khía cạnh sinh sản, hành vi vợ chồng duy trì trọn vẹn được ý hướng của tình yêu hỗ tương chân thực và sự xếp đặt của nó hướng tới ơn gọi cao cả nhất của con người là làm cha mẹ”.[11]
3.  Nhận định của cá nhân về tính dục
Có thể nói rằng, tính dục là một năng lực sáng tạo rất kỳ diệu nơi con người được Thiên Chúa ban cho. Ngược lại nó cũng là một điều gì đó rất đáng sợ, nếu con người tách ước muốn và sự thỏa mãn tình dục ra khỏi tình yêu của con người. Chính vì thế, tính dục không thể và không được phép dùng như là phương tiện nhằm chỉ để thỏa mãn nhục vọng hay chỉ vì sự ích kỷ. Tự bản chất, tính dục là một hồng ân Thiên Chúa ban cho con người. Vì ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, họ hướng đến và để tương trợ lẫn nhau (St 1,27). Đây chính là món quà cao quý mà Thiên Chúa trao tặng cho con người trong đời sống vợ chồng. Hơn nữa, mục tiêu của tính dục là làm triễn nở nhân loại qua việc sãn sinh sự sống mới. Đó cũng là mục tiêu tối hậu của hành vi tính dục trong đời sống vợ chồng. Bởi thế, Công đồng Vatica II đưa ra lập trường: “Tự bản chất, do chính định chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh hoàn thành hôn nhân”.[12]
Qua đó, chúng ta thấy rằng, về mặt luân lý cũng như Giáo huấn của Giáo hội cho thấy mọi hành vi tính dục chỉ được thực hiện trong đời sống hôn nhân mà thôi. Đây là căn tính cốt lõi và bất di bất dịch trong đời sống hôn nhân và gia đình, vì nó không chỉ tương trợ nhau nhưng còn hướng đến việc sinh sản con cái. Bởi thế, hành vi tính dục chỉ hợp luân lý cho những ai đã là vợ chồng của nhau, và hành vi đó phải hướng đến việc sinh sản con cái. Loại trừ mọi hành vi tính dục nhằm để khoái lạc, giải trí hay coi nó như những món hàng hóa để tiêu dùng. Một ý nghĩa nữa đó là, hành vi tính dục nói lên sự kết hợp vợ chồng nhằm biểu lộ tình yêu và sự quí trọng của hai vợ chồng dành cho nhau, cũng như làm cho sự hiệp nhất giữa hai người được mật thiết và sâu đậm hơn.
Thay lời kết
Tóm lại, việc kết luận tính dục có tội hay không có tội thì phải xem xét theo từng đối tượng, mục đích và ý hướng của họ. Qua nguyên tắc luân lý cũng như những hướng dẫn của Giáo hội, chúng ta có thể kết luận rằng: những hành tính dục của hai người không phải là vợ chồng của nhau đều là tội. Đồng thời, nếu là vợ chồng của nhau, mà hành vi tính dục đó nhằm để thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu thể xác chứ không phải nhằm mục đích tương trợ và hướng đến việc sinh sản cũng đều là tội. Bởi thế, những hành vi tính dục trong đời sống hôn nhân cách hợp pháp, cùng với ý hướng giúp đỡ và nhằm để tạo ra sự sống mới đều đẹp lòng Thiên Chúa.
Bang Nguyen




[1] Ngô Sĩ Đình, Phái tính và trật tự của công trình sáng tạo, Bài 2, Đề cương dạy môn: Luân lý phái tính, 2012.
[2] Ibidem, Bài 2, Đề cương dạy môn: Luân lý phái tính, 2012.
[3] Xc: Chuyện bi hài ở… nhà nghĩ (http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/nha-nghi-du-ky-an-tranh-thu-ngu-binh-dan-c46a500036.html)
[4] Xc: Tình dục đâu phải chuyện sinh con (tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi.../Tinh-duc-dau-chi-de-sinh-con.html)
[5] Xc: Thú chơi đổi vợ ở Saigon (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/09/thu-choi-doi-vo-o-sai-gon-1/)
[6] Vatican II, Gaudium et Spet, số 49
[7] Vatican II, Gaudium et Spet, số 48
[8] Ibid, số 48
[9] Xc. Tháng 6 năm 1966, Ủy ban gio hồng về kiểm sốt sinh đẻ phúc trình ln Đức Phaolô VI, Các phương thức mục vụ
[10] Phaolô VI, Humanae Vitae, số 8
[11] Phaolô VI, Humanae Vitae, số 12
[12] Vatica II, Gaudium et Spes, số 48

KHÁI QUÁT VỀ BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH (ORDO)

Tác giả: LUDWIG OTT


I. Ý NIỆM VÀ TÍNH BÍ TÍCH CỦA VIỆC TRUYỀN CHỨC THÁNH


1. Ý NIỆM

Việc truyền chức thánh (ordo, ordinatio) là Bí Tích, trong đó qua việc đặt tay và lời cầu nguyện của giám mục, người tín hữu được lãnh nhận quyền thiêng liêng và ân sủng để thực thi quyền này cách đẹp lòng Thiên Chúa.


2. TÍNH BÍ TÍCH CỦA VIỆC TRUYỀN CHỨC THÁNH

a) Tín lý

VIỆC TRUYỀN CHỨC THÁNH LÀ MỘT BÍ TÍCH THẬT SỰ VÀ CHÍNH ĐÁNG DO CHÍNH ĐỨC KITÔ THIẾT LẬP. De fide.

Chống lại giáo thuyết của giáo phái Tin Lành chỉ tin có chức tư tế cộng đồng của tín hữu mà thôi, Công Đồng Tridentinô tuyên bố, trong Hội Thánh Công Giáo có một chức tư tế hữu hình và khả giác (D 961), một phẩm trật do ý muốn Thiên Chúa thiết lập (D 966) có nghĩa là một chức tư tế đặc biệt và một cấp bậc tư tế đặc biệt (ordo in esse) khác hẳn với cấp bậc giáo dân theo bản chất. Chỉ nhờ qua một Bí Tích đặc biệt, đó là BT Truyền Chức Thánh (ordo in fieri hay là ordinatio) mà người tín hữu được đón nhận vào cấp bậc tư tế. Công Đồng Tridentinô định nghĩa : SI QUIS DIXERIT, ORDINEM SIVE SACRAM ORDINATIONEM NON ESSE VERE ET PROPRIE SACRAMENTUM A CHRISTO DOMINO INSTITUTUM, ANATHEMA SIT. D 963. Định nghĩa của Công Đồng chỉ xác nhận tính Bí Tích của việc Truyền Chức Thánh cách đại cương, chứ không nói đến tính BT của từng cấp bậc chức thánh.


b) Chứng cứ Thánh Kinh

Các bài tường trình về việc đón nhận vào phẩm trật Hội Thánh đều nêu rõ những điểm đặc thù của ý niệm BT.

- Theo cách giải thích truyền thống, đoạn Cv 6,6 tường trình việc đặt các thầy phó tế :“Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.”

- Đoạn Cv 14,23 nói về việc thiết đặt các kỳ mục :“Trong mỗi Hội Thánh, hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục, và sau khi ăn chay cầu nguyện, hai ông phó thác những người đó cho Chúa, Đấng họ đã tin.”

- Thánh Phaolô viết thư cho môn đệ Timôthê của mình :“Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh” (2 Tm 1,6). So 1 Tm 4,14 :“Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt ta trên anh.”

Việc đón nhận vào phẩm trật Hội Thánh được thực hiện qua một tiến trình khả giác, bao gồm việc đặt tay và kinh nguyện. Qua nghi thức bên ngoài này người được tiến chức được trao ban quyền thi hành chức vụ và ân sủng nội tâm. Việc thiết lập do chính Chúa Kitô được căn cứ trên thực tế là chỉ có Thiên Chúa, đặc biệt là Thiên-Nhân Giêsu Kitô mới có thể nối kết một nghi thức bên ngoài với việc trao ban ân sủng bên trong.

Thuật ngữ “ân sủng” (tò charisma) ở những đoạn trong hai lá thư gởi Timôthê không muốn nói đến những đặc sủng (Charismen), nhưng chỉ muốn nói đến ân sủng thánh hiến được trao ban để quản lý chức vụ thánh.

Lời khuyến cáo của Thánh Tông Đồ Phaolô với Timôthê :“Anh đừng vội đặt tay trên ai” (1 Tm 5,22) ninh chứng rằng, nếu đúng như cách giải thích về việc truyền chức, thì các vị lãnh đạo Hội Thánh do các Tông Đồ đặt lên sẽ tiếp tục chuyển giao quyền hành được lãnh nhận cho người kế nhiệm qua việc đặt tay của mình. Nhiều người giải thích Thánh Kinh (như P. Galtier, K. Rahner) hiểu việc đặt tay trong đoạn này là một nghi thức giao hòa, vì trong câu 20 nói về việc đối xử với “người phạm tội”.


c) Chứng cứ Thánh Truyền

Thánh Truyền minh chứng việc chính Thiên Chúa thiết lập phẩm trật Hội Thánh, việc chuyển giao quyền tư tế qua việc đặt tay và lời nguyện và nhờ đó mà được trao ban ân sủng nội tâm. Gregor thành Nyssa so sánh việc truyền chức linh mục như việc thánh hiến nơi BT Thánh Thể :“Sức lực đó của lời làm cho linh mục nên cao trọng và danh dự, làm cho họ tách khỏi đám đông nhờ qua điều mới lạ của thánh chức. Hôm qua và hôm kia, ngài vẫn là một trong muôn người, một trong dân chúng. Và chỉ một lần thôi, ngài đã trở thành người lãnh đạo, người đứng đầu, thầy dạy nhân đức, người hoàn tất các mầu nhiệm ẩn kín. Ngài được như thế, nhưng không có gì biến đổi nơi thân xác cũng như hình hài, nhưng với sức lực và ân sủng vô hình, linh hồn vô hình của ngài đã biến đổi tuyệt hảo” (Or. in baptismum Christi). Thánh Augustinus so sánh BT truyền chức với BT Thánh Tẩy (Contra ep. Parmeniani II 13,28).
 

II. CÁC CẤP BẬC TRONG CHỨC THÁNH


Thông thường người ta liệt kê có 7 chức thánh : bốn chức nhỏ là Giựt chuông (ostiariat), đọc sách (lectorat), trừ quỷ (exorzistat) và hầu đèn (akolythat) và ba chức lớn là phụ phó tế, phó tế (diaconat) và chức linh mục (sacerdotium) . Sacerdotium bao gồm cả chức linh mục lẫn giám mục. So D 958, 962. Lần thứ nhất chúng ta thấy liệt kê theo thứ tự các chức thánh này trong lá thư của Đức Giáo Hoàng Corneliô (251-253) gởi cho Đức Giám Mục Fabius thành Antiochia (Eusebius, Hist. eccl VI 43, 11 ; D 45) - Về việc liên hệ các chức thánh này với BT Thánh Thể, chúng ta xem Suppl. 37,2.


1. BỐN CHỨC NHỎ VÀ CHỨC PHỤ PHÓ TẾ ( subdiakonat)

BỐN CHỨC NHỎ VÀ CHỨC PHỤ PHÓ TẾ KHÔNG PHẢI LÀ CẤP BẬC CHỨC THÁNH MANG TÍNH BÍ TÍCH, NHƯNG CHỈ LÀ Á BÍ TÍCH. Sent. communior.

Decretum pro Armenis (D 701) lấy lại giáo lý của thánh Tôma và của các thần học gia Kinh Viện, không được xem như chứng cứ chống đối, nhưng Hiến Chế này không phải là quyết định giáo lý bất khả ngộ, mà chỉ là những chỉ thị thực hành mà thôi. Về vấn đề này Công đồng Tridentinô không đá động gì tới. Tự Sắc “SACRAMENTUM ORDINIS” của Đức Giáo Hoàng Piô XII (1947) xác nhận công khai là chỉ có các chức Phó Tế, linh mục và Giám mục là cấp bậc thánh chức, vì chỉ nói đến truyền chức cho ba cấp bậc này mà thôi.

Các chức nhỏ và chức phụ phó tế không do Thiên Chúa thiết lập, nhưng do nhu cầu của Hội Thánh mà hình thành. Tertullian là người đầu tiên nói về chức đọc sách (lectorat) (De praescr. 41), Hippolyt thành Rôma nói về chức Phụ phó tế (traditio Apost.), Đức Giáo Hoàng Coeneliô (D 45) nói tổng quát về các chức nhỏ (cho đến thế kỷ 12 chức phụ phó tế cũng thuộc về chức nhỏ). Giáo Hội Hy Lạp chỉ có 2 chức nhỏ : chức đọc sách và chức “Phó tế thấp”. Trong việc phong các chức này, không có việc đặt tay.


2. TRUYỀN CHỨC LINH MỤC (PRESBYTERAT)

PHONG CHỨC LINH MỤC LÀ MỘT BÍ TÍCH. De fide.

Công Đồng Tridentinô có nói nhưng không rõ mấy (implicite) về tính bí tích của việc truyền chức linh mục trong định nghĩa của mình : ORDO là một bí tích thật và chính xác (D 963). Vì tính BT của việc truyền chức giám mục và Phó Tế vào thời Công đồng còn đang tranh cải, nên định nghĩa này ít ra là nhắm đến việc truyền chức linh mục, mà bản chất BT không còn ai tranh cải nữa. Tự Sắc “SACRAMENTUM ORDINIS” của Đức Giáo Hoàng Piô XII xác nhận việc truyền chức linh mục cũng như giám mục và phó tế là BT, và nói rõ Materia và Forma cho từng cấp bậc chức thánh. D 2301.

Nghi thức phong chức nói lên rõ ràng tính BT của việc phong chức linh mục vì trên căn bản bao gồm việc đặt tay và lời cầu nguyện, trong đó cầu xin Thánh Thần ban ơn sủng cho người tiến chức.


3. TRUYỀN CHỨC GIÁM MỤC (EPISCOPAT)

TRUYỀN CHỨC GIÁM MỤC LÀ MỘT BÍ TÍCH. Sent. certa.

Công đồng Tridentinô tuyên bố, các vị Giám mục như những người kế nhiệm các Tông Đồ thuộc vào hàng phẩm trật Hội Thánh cách ưu tiên (praecipue) và các vị giám mục luôn nói trong buỗi truyền chức : ACCIPE SPIRITUM SANCTUM. HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN. D 960, 964. Tự Sắc SACRAMENTUM ORDINIS của Đức Giáo Hoàng Piô XII luôn xác nhận tính BT của việc truyền chức thánh. Công Đồng Vaticanô II dạy tỏ tường :“Khi được tấn phong, các giám mục lãnh nhận trọn vẹn BT Truyền Chức Thánh” (LG 21,2).

Hai đọa Thánh Kinh 2 Tm 1,6 và 1 Tm 4,14 đều trực tiếp nói đến việc truyền chức thánh giám mục. Việc trao ban được diễn ra qua việc đặt tay và lời nguyện.

Ý kiến chống đối của các nhà thần học Kinh Viện, cho rằng việc tấn phong Giám mục không trao ban một quyền lực nào mới trên CORPUS CHRISTI REALE, có nghĩa là BT Thánh Thể, ý kiến này cũng không đúng chỗ, chỉ vì việc truyền chức giám mục trao ban trọn quyền để chia sẻ quyền truyền truyền phép cho những người khác.

QUYỀN ƯU TIÊN CỦA CÁC GIÁM MỤC

CÁC GIÁM MỤC ĐỨNG TRÊN LINH MỤC. De fide.

Quyền trưởng thượng (superiorité) của các giám mục bị Aêrius thành Sebaste (thế kỷ thứ 4) chống đối ở thời cổ ; vào thời Trung Cổ có Marsilius thành Padua (D 498), nhóm Wicliften và Hussiten chống đối (D 675) và bắt đầu thời mới có giáo phái Tin Lành phủ nhận.

Để chống lại giáo phái Tin Lành, Công Đồng Tridentinô tuyên bố : SI QUIS DIXERIT, EPISCOPOS NON ESSE PRESBYTERIS SUPERIORES, ANATHEMA SIT. d 967. Quyền ưu tiên của các giám mục căn cứ vào quyền thẩm phán và vào quyền thánh chức. Quyền ưu tiên trong thánh chức bao gồm việc chỉ có giám mục mới có quyền truyền chức và ban BT Thêm Sức như thừa tác viên thông thường.

Vấn nạn được đặt ra là, quyền ưu tiên của giám mục trên các linh mục căn cứ vào quyền tài phán cũng như quyền thánh chức là do chính Chúa Kitô thiết đặt hay theo ý muốn của Hội Thánh ; quyền này là quyền do Thiên Chúa hay do Hội Thánh, điều này thì Công Đồng Tridentinô không giải quyết. Thánh Truyền cho thấy thực tế ưu tiên của giám mục, nhưng cũng không nói về bản tính của quyền này. Hierônymus dạy rằng thuở ban đầu không có sự khác biệt gì giữa giám mục và linh mục. Để tránh sự chia rẻ, một vị linh mục được các vị khác bầu ra để lãnh đạo cộng đoàn. Từ đó có thể việc trao ban chức thánh trở thành quyền ưu tiên cho giám mục. So Ep. 146,1 ; In ep. ad Tit. 1,5. Ý kiến của Hieronymus được tiếp tục triển khai nơi Isidor thành Sévilla, Amalar thành Metz và nhiều nhà giáo luật thời Trung Cổ. Johannes Duns Scotus thuộc trường phái Kinh Viện nghi ngờ điều này. Phần đông các nhà thần học phủ nhận và đồng thanh với Thánh Tôma, nhận rằng, có một sự khác biệt giữa giám mục và linh mục ngay từ ban đầu do việc chính Đức Kitô trực tiếp thiết lập.


4. TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ (DIAKONAT)


VIỆC TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ LÀ MỘT BÍ TÍCH. Sent.certa.

Lời giải thích của Công Đồng Tridentinô, khi tấn phong các giám mục luôn nói : Accipite Spriritum Sanctum (D 964), điều này cũng áp dụng trong việc truyền chức cho các thầy phó tế. Tự Sắc SACRAMENTUM ORDINIS của Đức Giáo Hoàng Piô XII luôn xác tín vào tính BT của việc truyền chức phó tế, đó là điều gần như được mọi thần học gia công nhận.

Truyền thống nhìn đoạn Cv 6,6 là việc thiết đặt chức phó tế. Nghi thức truyền chức căn bản cũng nằm trong việc đặt tay và lời cầu khẩn xin Thánh Thần ban ơn.

Phó Tế, linh mục và Giám mục là cấp bậc chức thánh mang tính bí tích. Đấy không phải là 3 bí tích khác nhau, nhưng cả ba tạo thành một bí tích truyền chức duy nhất. Quyền linh mục chỉ được tràn đầy trong quyền giám mục, quyền này không được trọn vẹn mấy trong chức linh mục. Cấp bậc thấp nhất trong việc tham dự vào chức thánh linh mục là chức phó tế.
 

III. DẤU CHỈ BÊN NGOÀI CỦA BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC

1. MATERIA
 
a) VIỆC ĐẶT TAY LÀ MATERIA DUY NHẤT CỦA BT TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ, LINH MỤC VÀ GIÁM MỤC. Sent.fidei proxima.

Chỉ có ba cấp bậc thánh chức mang tính bí tích mà thôi, nên việc đặt tay là chất thể cho BT Truyền Chức Thánh. Việc đặt tay phải được thực hiện qua việc đụng chạm thể lý nơi đầu của vị tiến chức. Để việc ban phát BT này thành sự, chỉ cần một sự đụng chạm luân lý qua việc giang tay.

Trong Tự Sắc SACRAMENTUM ORDINIS (1947), Đức Giáo Hoàng PIÔ XII tuyên bố với thẩm quyền Tòa Thánh cao nhất : SACRORUM ORDINUM DIACONATUS, PRESBYTERATUS ET EPISCOPATUS MATERIAM EAMQUE UNAM ESSE MANUUM IMPOSITIONEM. D 230. So D 910, 958t, 1963.

Thánh Kinh (Cv 6,6 ; 1 Tm 4,14 ; 5,22 ; 2 Tm 1,6) và Thánh Truyền chỉ nhận việc đặt tay như là yếu tố chất thể của nghi thức truyền chức các cấp bậc thánh chức mà thôi. So Hippolyt thành Rôma, Traditio Apostolica ; Cyprian, Ep. 67,5 ; Cornelius, Ep. Ad Fabium (ở Eusebius, Hist. eccl. VI 43, 9.17) ; Statuta Ecclesiae antiqua (D 150t). Trong Giáo Hội Hy Lạp chỉ có việc đặt tay, không có nghi thức đưa các dụng cụ thánh. Dù vậy Tòa Thánh luôn luôn công nhận việc thành sự của việc truyền chức trong Giáo Hội Hy Lạp.

Tự Sắc của Đức Giáo Hoàng Piô XII chỉ giải quyết vấn đề, trong tương lai điều gì cần thiết phải có để cho việc truyền chức các cấp bậc thánh chức này được thành sự. Nhưng không giải quyết vấn đề thiết lập, Đức Kitô thiết lập BT Truyền Chức IN GENERE hay IN SPECIE,
và từ đó kéo theo vấn nạn, có phải việc đặt tay trong quá khứ vẫn luôn luôn là chất thể duy nhất của BT Truyền Chức hay không.

Theo ý kiến chung của các nhà thần học, Đức Kitô đã thiết lập BT Truyền chức IN SPECIE, chính Người đã xác định việc đặt tay và cả lời nguyện đi kèm theo để xác định như là bản thể bất biến của BT Truyền Chức, thế nên tự ngàn xưa việc đặt tay vẫn là chất thể duy nhất của BT này. Các xác định của Tự Sắc, theo như bản chất luật, không có tính chất hồi tố.

Tự Sắc của Đức Giáo Hoàng Piô XII chỉ nhận việc đặt tay lần đầu tiên, chủ tế không nói gì cả là Materia của BT, chứ không phải là việc giang tay phải tiếp đó. Cả việc đặt tay vào cuối lúc truyền chức, kèm theo lời đọc : ACCIPE SPIRITUM SANCTUM : QUORUM REMISERIS PECCATA...không thuộc về Materia của BT. Việc đặt tay lần thứ hai này không có trong nghi thức truyền chức bên Hy Lạp ; bên La tinh chỉ có từ thế kỷ thứ 13.
 

b) VIỆC TRAO CÁC DỤNG CỤ THÁNH KHÔNG CẦN THIẾT CHO VIỆC THÀNH SỰ CỦA BT TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ, LINH MỤC VÀ GIÁM MỤC. Sent. fidei proxima.

Phần đông các nhà thần học Kinh Viện căn cứ vào tính BT của các cấp bậc chức thánh, cho Materia của BT Truyền Chức thánh nằm ở chỗ trao các dụng cụ thánh, biểu trưng cho chức vụ của từng bậc chức thánh (traditio instrumentorum). Tư tưởng nay được thánh Tôma và cả Decretum pro Armenis của công đồng Florenz (1439) đón nhận. D 701 : CUIUS (SC ORDINIS) MATERIA EST ID, PER CUIUS TRADITIONEM CONFERTUR ORDO. Chúng ta nhớ Hiến Chế không phải là phán quyết bất khả ngộ về giáo lý. Cuối cùng, người Hy Lạp cũng không hiệp nhất căn cứ theo công đồng, họ cũng không thay đổi nghi thức truyền chức, cũng không thêm vào nghi thức trao dụng cụ thánh.

Trong Tự Sắc SACRAMENTUM ORDINIS, Đức giáo hoàng Piô XII tuyên bố, “ít ra là trong tương lai, việc trao dụng cụ thánh không cần thiết cho việc thành sự của BT Truyền Chức Phó Tế, linh mục và giám mục”. Lời giải thích này cho chúng ta thấy khả năng là, trong quá khứ việc trao dụng cụ thánh cần thiết cho việc thành sự của BT Truyền chức thánh cho các cấp bậc nêu trên, dù cho đã thực hiện trong một thành phần nào đó trong Hội Thánh, có thể là một thành phần của Materia, có thể duy chỉ đó là Materia, thì người ta cũng có thể nghĩ rằng, chính Đức Kitô đã thiết lập BT này IN GENERE, hay là việc trao này là một điều kiện do Hội Thánh thêm vào để việc truyền chức được thành sự.

Căn cứ theo lịch sử, việc trao dụng cụ thánh trong nghi thức Truyền Chức chỉ được thực hành từ thế kỷ thứ 10. Việc trao dụng cụ thánh nơi các cấp bậc không có tính BT được minh chứng từ thời xa xưa (Hippolyt ; Statuta Ecclesiae antiqua : D 153tt). Việc đặt quyển Phúc Âm trong nghi thức tấn phong giám mục được minh chứng từ thời cổ ; nhưng đây không phải là việc trao dụng cụ thánh.


2. FORMA (MÔ THỨC)

MÔ THỨC CỦA BT TRUYỀN CHỨC PHÓ TẾ, LINH MỤC VÀ GIÁM MỤC NẰM Ở LỜI XÁC ĐỊNH RÕ VIỆC ĐẶT TAY. Sent. fidei proxima.

Trong Tự Sắc SACRAMENTUM ORDINIS, Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố : FORMAM VERO ITEMQUE UNAM ESSE VERBA APPLICATIONEM HUIUS MATERIAE DETERMINANTIA, QUIBUS UNIVOCE SIGNIFICANTUR EFFECTUS SACRAMENTALES - SCILICET POTESTAS ORDINIS ET GRATIA SPIRITUS SANCTI  , QUAEQUE AB ECCLESIA QUA TALIA ACCIPIUNTUR ET USURPANTUR. D 2301.

Những chữ xác định rõ nghĩa Materia qua việc hướng ý vào những hiệu quả của BT, tức là quyền thánh chức và ân sủng, đó là những chữ thường được gọi là “kinh tiền tụng truyền chức”. Những chữ sau đây thuộc cơ bản của kinh tiền tụng trong việc truyền chức Phó Tế, như thế cần thiết cho việc thành sự của BT :“EMITTE IN EUM - ROBORETUR”. Trong Kinh tiền tụng phong chức linh mục là :“DA, QUAESUMUS, OMNIPOTENS PATER - INSINUET.” Trong kinh tiền tụng tấn phong Giám mục là :“COMPLE IN SACERDOTE TUO - SANCTIFICA.”

Công thức kiểu mệnh lệnh (imperativ) kèm theo nghi thức đặt tay khi truyền chức phó tế và tấn phong giám mục : ACCIPE SPIRITUM SANCTUM (nơi phó tế là AD ROBUR) xuất hiện vào thế kỷ 13-14 trong nghi thức La Tinh. Công thức này không thuộc về Mô thức của BT và cũng không cần thiết cho việc thành sự của BT.

PHỤ LỤC : TÍNH KHÔNG THÀNH SỰ CỦA VIỆC TRUYỀN CHỨC TRONG ANH GIÁO

Trong Tự Sắc APOSTOLICAE CURAE ban hành ngày 13,9.1896, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên bố việc truyền chức ở Anh Giáo không thành sự. D 1963/66. Lời tuyên bố này dựa vào sự kiện : vua Eduard VI đưa ra một công thức truyền chức mới vào năm 1549 thay thế cho mô thức “ACCIPE SPIRITUM SANCTUM” thường kèm theo nghi thức đặt tay ; công thức mới này không nói rõ cấp bậc chức thánh cũng không nói về quyền của chức thánh đang được trao ban ( DEFECTUS FORMAE) - sau này có bổ sung thêm công thức : ad officium et opus presbyteri (hoặc episcopi) -, thêm nữa trong việc truyền chức này thiếu ý hướng ban phát những quyền hành cơ bản cho chức linh mục là dâng tiến hy tế thánh lễ và quyền tha tội ( DEFECTUS INTENTIONIS). Nhưng trước hết, người ta nghi ngờ về việc truyền chức cho vị Tổng Giám Mục Anh Giáo là Mattheus Parker (1559) mà qua việc truyền chức này người ta mới quyết định được Anh Giáo có gắn bó với sự kế vị Tông Đồ hay không ; việc truyền chức này có do một người tấn phong đã được thánh hiến thành sự thực hiện hay không ?
 

IV. HIỆU QUẢ CỦA BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH


1. ÂN SỦNG CỦA CHỨC THÁNH

BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH BAN CHO NGƯỜI LÃNH NHẬN ƠN THÁNH HÓA. De fide. So D 843 a, 959, 964.

Bí Tích Truyền Chức thánh là BT của kẻ sống, PER SE làm gia tăng ơn thánh hóa. Ân sủng thánh chức có mục đích giúp cho người thụ lãnh thực hành xứng đáng chức thánh của mình và ban cho khả năng biến đổi cuộc đời thích ứng với thánh chức. Decretum pro Armenis đồng thanh với thánh Tôma, dạy rằng : EFFECTUS (SC ORDINIS) AUGMENTUM GRATIAE, UT QUIS SIT IDONEUS MINISTER.

Trong Thông Điệp AD CATHOLICI SACERDOTII (1935) Đức giáo hoàng Piô XI dạy :“Qua BT Truyền Chức Thánh, vị linh mục lãnh nhận một hồng ân mới và đặc biệt và một trợ lực đặc biệt, nhờ đó...ngài có thể chu toàn những trách nhiệm cao cả của chức vụ mới đón nhận và một sự can đảm kiên cường để hoàn tất những phận vụ khó khăn.” D 2275. Nền tảng Thánh Kinh là 1 Tm 4,14 và 2 Tm 1,6.

Cùng với việc kiện toàn cấp bậc ân sủng, thụ lĩnh nhân cũng được quyền lãnh nhận hiện sủng cần thiết để đạt được mục đích của BT. Suppl. 35,1.


2. ẤN TÍN CỦA BT TRUYỀN CHỨC

BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH GHI MỘT ẤN TÍN NƠI NGƯỜI LÃNH NHẬN. De fide.

Công Đồng Tridentinô tuyên bố : SI QUIS DIXERIT, PER SACRAM ORDINATIONEM...NON IMPRIMI CHARACTEREM, ANATHEMA SIT. D 964 ; so 852. Từ Ấn Tín này đưa đến việc không thể tái hồi BT Truyền Chức và người nhận không còn khả năng trở lại cấp bậc giáo dân. So Augustinus, Contra ep. Parmeniani II 13,28 ; De bono coniugali 24,32.

Ấn tín BT Truyền Chức ban cho người tiến chức khả năng tham dự tích cực vào Phụng Tự của Đức Kitô, vì đây là sự sung mãn tuôn trào từ chức Tư Tế của Chúa Kitô, nên cũng được tham dự tích cực vào chức Tư Tế của Người.

Ấn tín như SIGNUM CONFIGURATIVUM sẽ làm cho vị tiến chức đồng hình ồng dạng với Chúa Kitô, vị Thượng Tế vĩnh cửu ; Ấn Tín như SIGNUM DISTINCTIVUM phân biệt người được thánh hiến với giáo dân và những người lãnh nhận cấp bậc thánh chức không thuộc vào phẩm trật ; Ấn tín như SIGNUM DISPOSITIVUM ban cho người tiến chức khả năng và quyền để thực hiện các quyền hành theo phẩm trật đúng chức thánh đã lãnh nhận ; Ấn tín như SIGNUM OBLIGATIVUM đòi buộc họ phải ban phát những gia tài cứu độ của Đức Kitô và buộc họ phải sống xứng đáng đời sống luân lý thanh sạch.

Vì BT Truyền Chức được chia ra ba cấp bậc, nên có thể chấp nhận là trong mỗi cấp bậc chức thánh này, người tiến chức lãnh nhận một ấn tín đặc biệt, khác với ấn tín nơi chức thánh khác. Như dấu chỉ tham gia tích cực vào chức Tư Tế của Đức Kitô, ấn tín của BT Truyền chức thánh vượt trổi hơn ấn tín của BT Thánh Tẩy, ấn tín này cần thiết phải có trước, và cả ấn tín của BT Thêm Sức, thường cũng đòi buộc phải có trước.


3. QUYỀN HÀNH CỦA THÁNH CHỨC

BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH TRAO BAN CHO NGƯỜI LÃNH NHẬN QUYỀN THIÊNG LIÊNG VÀ TRƯỜNG TỒN. De fide. So D 960t.

Các quyền thiêng liêng xuất phát từ ấn tín BT, các quyền này được trao ban cho người tiến chức theo từng cấp bận thánh chức. Tất cả tập trung vào cách đặc biệt vào BT Thánh Thể. Thầy Phó Tế lãnh nhận trọn quyền phục vụ giám mục và linh mục khi cử hành Hy Tế Thánh Thể và quyền trao Mình Thánh Chúa. Vị linh mục lãnh nhận trước hết là quyền truyền phép và quyền tha tội (D 961) ; Vị giám mục lãnh nhận quyền truyền chức.
 

V. THỪA TÁC VIÊN CỦA BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH


1. THỪA TÁC VIÊN THÔNG THƯỜNG

THỪA TÁC VIÊN THÔNG THƯỜNG MỌI CẤP BẬC THÁNH CHỨC, DÙ LÀ Á BÍ TÍCH HAY KHÔNG THUỘC Á BÍ TÍCH, LÀ VỊ GIÁM MỤC ĐƯỢC THỤ PHONG THÀNH SỰ. De fide.

Công đồng Tridentinô tuyên bố : SI QUIS DIXERIT, EPISCOPOS NON HABERE POTESTATEM CONFIRMANDI ET ORDINANDI, VEL EAM, QUAM HABENT, ILLIS ESSE CUM PRESBYTERIS COMMUNEM, ANATHEMA SIT. D 967 ; so 701 ; CIC 951.

Theo Thánh Kinh, các Tông Đồ (Cv 6,6 ; 14,22 ; 2 Tm 1,6) hay môn đệ các Tông Đồ được thánh hiến làm giám mục ( 1Tm 5,22 ; Tt 1,5) là các thừa tác viện trong việc truyền chức.

Theo truyền thống cổ, chỉ có các Giám mục là thừa tác viên của BT Truyền Chức Thánh. Quyền truyền chức là quyền ưu tiên của giám mục, và các linh mục không được phép. Hippolyt thành Rôma trong quyển Trật tự Hội Thánh của mình xác nhận là linh mục không được truyền chức cho giáo sĩ (clerum non ordinat). Theo sách HUẤN GIÁO CỦA CÁC TÔNG ĐỒ các vị giám mục được đặc quyền trao ban các chức thánh. Linh mục được giang tay, nhưng đó không phải là truyền chức (VIII 28,3 ; so III 20,2). Epiphanius chống lại lạc thuyết của Aêrius thành Sebaste, cho rằng linh mục cũng ngang hàng với giám mục ; Epiphanius đưa chứng cứ chỉ có giám mục mới có quyền truyền chức (Haer. 75,4). Dù có đặt vị trí của linh mục rất cao, nhưng Hieronymus vẫn phải chấp nhận quyền ưu tiên của giám mục trong việc truyền chức :“Vị giám mục sẽ làm gì, nếu như truất quyền truyền chức (excepta ordinatione), là điều mà linh mục không được làm ” (Ep. 146,1).

Mỗi vị giám mục được tấn phong thành sự, cho dù ngài có là lạc đạo, ly khai, mại thánh hay bị dứt phép thông công đi nữa, đều có thể truyền chức thành sự, đương nhiên dưới điều kiện là ngài phải có ý hướng và tuân giữ nghi thức căn bản bên ngoài (sent.certa). So D 855, 860 ; CIC 2372.

Vào thời cổ và Sơ Trung Cổ thường thấy có nhiều lần người ta tái truyền chức (Reordination) có nghĩa là ban lại chức thánh do các giám mục lạc đạo, ly khai hay mại thánh đã ban. Các giáo phụ và các nhà thần học thời Tiền Kinh Viện không có lập trường vững vàng về vấn đề này. Petrus Lombardus cũng không dám đưa ra một quyết định vì sợ chống đối thẩm quyền các giáo phụ. (Sent. IV 25,1). Thánh Tôma chấp nhận việc thành sự của các lần truyền chức do những giám mục lạc đạo và ly khai khỏi Hội Thánh (Suppl. 38,2).

Để việc truyền chức được cử hành hợp pháp, cần vị giám mục sở tại (episcopus proprius) hay một vị giám mục khác với sự đồng ý của giám mục địa phương ban phát (Dimissorien). CIC 955.


THỪA TÁC VIÊN CỦA BÍ TÍCH TẤN PHONG GIÁM MỤC


Để việc ban phát BT Tấn phong giám mục hợp pháp, cần có 3 giám mục cử hành. Để thành sự chỉ cần một vị giám mục, vì mỗi vị giám mục đều có trọn quyền truyền chức. CIC 954. Hai vị giám mục đồng tế theo Tự Sắc EPISCOPALIS CONSECRATIONIS (1944) của Đức Giáo Hoàng Piô XII, không những là những người chứng, mà còn là những người đồng truyền chức (Mitkonsekratoren) : ET IPSI CONSECRATORES EFFECTI PROINDEQUE CONCONSECRATORES DEINCEPS VOCANDI. Điều cần thiết là cả hai đều cùng có ý hướng truyền chức và cùng với vị giám mục chánh tế truyền chức (Konsekrator) tạo dấu chỉ BT. Từng vị giám mục đồng tế sẽ đặt tay sau vị giám mục chánh tế với lời đọc :“Accipe Spiritum Sanctum” ; cả hai cùng đọc với vị tấn phong đọc lời kinh truyền chức và tiếp theo là Kinh Tiền Tụng Truyền Chức. (so AAS 42 [1950] 452).

Từ thuở xa xưa, nghi thức truyền chức giám mục đã được nhiều giám mục cùng cử hành. Theo chỉ thị của Công Đồng Nicêa (can. 4) ít nhất nên có 3 giám mục ; theo Huấn Giáo các Tông Đồ (III 20,1 ; VIII 27,2) nên có 3, ít nhất là 2 giám mục cùng cử hành. Trong trường hợp khẩn cấp chỉ cầm một giám mục là đủ, như Huấn Giáo các Tông Đồ (VIII 27,3) và một lá thư người ta tin rằng của Đức Giáo Hoàng Gregor Cả (Ep. XI 64,8) gởi cho thánh Augustinus thành Canterbury (khoảng trước năm 731), minh chứng.


2. THỪA TÁC VIÊN NGOẠI LỆ
 
a) THỪA TÁC VIÊN NGOẠI LỆ CHO BỐN CHỨC NHỎ VÀ CHỨC PHỤ PHÓ TẾ LÀ LINH MỤC. Sent.certa.

Do thông luật hay do một uỷ nhiệm của Tòa Thánh, một linh mục thường có thể truyền các chức nhỏ và chức Phụ Phó Tế. Lý do nằm trong thiết đặt của Hội Thánh cho các chức nhỏ này. Luật hiện hành chỉ nhằm cho việc trao ban chức cắt tóc (Tonsura) và bốn chức nhỏ mà thôi. So CIC 239 $ 1 n. 22 ; 957 $ 2 ; 964 n.1. Vào thời Trung Cổ và sau thời Công Đồng Tridentinô, các đan việc phụ được đặc ân ban đến chức Phụ phó tế.
 

b) Căn cứ vào cấp bậc chức thánh mang tính BT của các chức Phó Tế và chức linh mục, nhiều nhà thần học đồng thanh với thánh Tôma và Scotus cho rằng, một vị linh mục thường cũng có thể ban các chức thánh này thành sự mà không cần có uỷ quyền của Tòa Thánh.

Ý kiến này gặp nhiều rắc rối về mặt lịch sử : Đức Giáo Hoàng Bonifatio IX đồng thanh với nhiều nhà giáo luật thời Trung Cổ (Tỉ như Huguccio + 1210), qua Tự Sắc (Bulla) SACRAE RELIGIONIS ban hành ngày 1.2.1400, ban quyền cho đan việc phụ của đan viện dòng Augustiner St Osytha ở Essex thuộc địa phận London và các người kế vị của ngài, đặc ân ban cho những người dưới quyền các chức nhỏ và cả các chức Phụ Phó Tế, Phó Tế và cả chức linh mục. Qua sự phản đối của Đức Giám mục địa phận London, đặc quyền này bị rút lại ngày 6.2.1403. Các chức thánh được ban do đặc quyền này bị tuyên bố là không thành sự.

Qua Tự Sắc GERENTES AD VOS ban hành ngày 16.11.1427, Đức Giáo Hoàng Martin V ban cho đan việc phụ của đan viện Zisterzienser Altzelle thuộc địa phận Meissen đặc ân trong vòng 5 năm, quyền truyền chức cho các đan sĩ và các kẻ dưới quyền cả những chức lớn (Phú phó tế, Phó Tế, Linh mục).

Qua Tự Sắc EXPOSCIT TUAE DEVOTIONIS ban hành ngày 9.4.1489, Đức Giáo Hoàng Innocentê VIII ban cho Bề trên tổng quản và 4 Phó Tổng Quản cũng như những người kế nhiệm các ngài của dòng Zisterzienser đặc ân truyền chức Phụ Phó Tế và phó Tế cho những người dưới quyền. Các Đan viện phụ Zisterzienser vẫn tiếp tục thi hành quyền này mãi cho đến thế kỷ 17 mà không gặp khó khăn nào.

Nếu như người ta không muốn chấp nhận rằng, các vị Giáo Hoàng trên bị rơi vào những quan niệm lệch lạc ở thời đại mình (ở đây không đụng tới quyền Bất khả Ngộ của Đức Giáo Hoàng, vì không nhắm tới quyết định thuộc giáo quyền về vấn đề này), thì chúng ta phải chấp nhận rằng một linh mục bình thường theo cách nhìn tương ứng là một thừa tác viên ngoại lệ của BT Truyền chức Phó tế và linh mục, cũng như ngài là thừa tác viên ngoại lệ của BT Thêm Sức. Theo như cách giải thích này thì quyền truyền chức nằm trong quyền truyền chức thuộc chức linh mục như là POTESTAS LIGATA. Để có thể sử dụng quyền này thánh sự, dù theo trật tự của Thiên Chúa hay theo trật tự của Hội Thánh, cũng cần phải có một sự uỷ quyền đặc biệt của Tòa Thánh.
 

VI. NGƯỜI LÃNH NHẬN BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

CHỈ CÓ NAM NHÂN ĐÃ RỬA TỘI MỚI CÓ THỂ LÃNH NHẬN BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH CÁCH THÀNH SỰ. Sent.certa. CIC 968 $ 1.

Theo luật tích cực của Thiên Chúa, chỉ có nam nhân mới có khả năng lãnh nhận BT Truyền Chức thánh mà thôi. Đức Kitô chỉ kêu gọi người nam làm Tông Đồ. Theo chứng cứ Thánh Kinh và theo thực hành hiện tại của Hội Thánh các quyền thuộc phẩm trật Hội Thánh chỉ được trao lại cho nam nhân. So Tertullian, De praescr. 41 ; De virg.vel.9.

Vào thời cổ của Hội Thánh, Nữ Phó Tế tạo thành một cấp bậc đặc biệt gần giống như giáo sĩ ; theo Huấn Giáo các Tông Đồ (VIII 19t) và theo luật của hoàng đế (Justinian) họ còn được kể như thuộc vào hàng giáo sĩ. Việc đón nhận họ cũng có nghi thức riêng, theo Huấn Giáo các Tông Đồ (VIII 19t) cũng do việc đặt tay và lời nguyện. Họ không được thực thi những phận vụ của linh mục. So Hippolyt, Trad.Apost. ; Conc. Nic.can. 19 ; Epiphanius, Haer. 79,3 ; Const. Apost. VIII 28,6. Phận vụ chính của là phụ giúp trong việc rửa tội cho nữ giới và chăm sóc người nghèo, người bệnh.

Việc truyền chức cho một người tín hữu chưa trưởng thành là thành sự, nhưng không được phép. Người trưởng thành phải có ý hướng lãnh nhận chức thánh. Vì những trách nhiệm phải đón nhận cũng cần phải có một ý hướng tiềm tàng.

Để lãnh nhận chức thánh cách hợp lệ cần phải tuân giữ kỹ lưỡng những điều kiện Hội Thánh chỉ dạy. Để lãnh nhận BT cho cách xứng đáng cần phải có tình trạng ân sủng.